phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn này gồm ba chương: Chương Một: Những lý luận chung liên quan đến đề tài Chương Hai: Khảo sát và miêu tả từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiể thuyết Dấu chân người lính Chương Ba: Đặc trưng của từ ngữ biểu thị chiến tranh trong tiểu thuyết Dấu chân người lính PHẦN NỘI DUNG Chương Một: Những lý luận chung liên quan đến đề tài 1. Khái quát về từ và cụm từ Tiếng Việt 1. Khái quát về từ Tiếng Việt Trong cuộc sống khi nói hay khi viết, chúng ta cần phải dùng từ. Bởi từ là một trong những đơn vị ngôn ngữ quan trọng để tạo nên câu hoặc lớn hơn câu trong quá trình giao tiếp.
Và người giao tiếp tốt là người biết huy động vốn từ có sẵn để tạo ra lời nói hoặc văn bản hay, đạt hiệu quả cao. Tuy thế, giao tiếp là một hoạt động xã hội, muốn bộc lộ được chính xác tâm tư, suy nghĩ của mình và muốn người khác lĩnh hội được đầy đủ ý nghĩ đó, mỗi người cần phải nắm chắc được từ. Và khi nghiên cứu đề tài, để hiểu được sâu sắc ý đồ vận dụng từ ngữ biểu thị chiến tranh dày đặc trong tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, trước tiên chúng tôi và bạn đọc cần đi vào những khía cạnh cơ bản của từ. Khái niệm từ Từ là đơn vị cốt lõi, đóng một vai trò hết sức quan trọng, giống như viên gạch để xây dựng lên tòa lâu đài ngôn ngữ.
Vì vậy, nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước. Saussure đã viết: “Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” (F. Cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về từ. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ nhưng có thể thấy rằng mỗi ý kiến lại làm rõ thêm khái niệm từ ở một khía cạnh nào đó chứ chưa Luan van có khái niệm nhất quán.
Trong khuôn khổ luận văn có hạn nên chúng tôi chỉ đưa ra một số khái niệm tham khảo sau: Theo các tác giả thuộc Ủy ban khoa học xã hội trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt thì “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định dùng để đặt câu” [, tr. Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt cũng đồng tình với quan điểm này, coi từ là “đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, dùng để đặt câu” [26, tr. Cũng có ý kiến tương tự, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời” [11, tr. Tác giả Hồ Lê lại xem: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [18, tr.
Còn theo Vũ Đức Nghiệu trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt thì: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để cấu tạo câu” [8, tr. Theo Đỗ Hữu Châu thì: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo nên câu” [5, tr.13] Trong quá trình tìm hiểu các quan niệm về từ tiếng Việt của các nhà Việt ngữ trên, chúng tôi nhận thấy đều có sự thống nhất về từ ở một số đặc điểm: âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và khả năng hoạt động. Và nếu không đòi hỏi một cách nghiêm ngặt và chấp nhận một cái nhìn để đi sâu vào nghiên cứu đề tài này thì chúng tôi đồng tình với định nghĩa của Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [19, tr. Tiêu chí nhận diện từ Tiếng Việt Luan van Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ Việt như: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp,…chúng tôi xin đưa ra một số tiêu chí cơ bản để nhận diện từ Tiếng Việt như sau: Trước hết, từ là một đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết (tiếng), có nghĩa nhỏ nhất.
Ví dụ: Từ có một âm tiết (lớn, nhỏ, cao, thấp, …), từ có hai âm tiết trở lên (nhà văn, quần áo, chiến dịch, công nông binh, hợp tác xã, …),… Với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ, từ khác đơn vị khác nhỏ hơn nó là âm vị ở chỗ nó mang nghĩa. Mà ở đây, âm vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, là tổng thể các nét khu biệt được thể hiện đồng thời, có chức năng tham gia cấu tạo vỏ âm thanh các đơn vị có nghĩa và phân biệt các đơn vị có nghĩa đó với nhau. Ví dụ: “Bình minh như lạ như quen”. Từ “bình minh” là đơn vị gồm hai âm tiết, ta nghe được và mang ý nghĩa “lúc sáng sớm”; |b| là đơn vị nhỏ nhất, có vỏ âm thanh nhưng không có nghĩa mà chỉ là một đơn vị dùng để khu biệt nghĩa.
Từ có tính hoàn chỉnh cả về nghĩa và về cấu tạo. Từ phải có tính hoàn chỉnh về nghĩa tức là mỗi từ được phát âm hoặc viết ra phải có nghĩa, phù hợp với mục đích giao tiếp. Mà theo Nguyễn Thiện Giáp “một đơn vị được coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó biểu thị một khái niệm về đối tượng tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói” [11, tr. Ví dụ: “Đôi bàn tay nhỏ nhắn”.
Ở đây, “nhỏ nhắn” biểu thị ý nghĩa vừa nhỏ vừa đẹp. Hay từ “cà chua” với tư cách là một từ đa tiết, nó biểu thị một loại cà chua cụ thể, quả mềm, khi chín màu đỏ, vị hơi chua, dùng để ăn sống hoặc nấu chín. Với nghĩa này trong bất cứ trường hợp nào nó vẫn thể hiện chính đối tượng là quả cà chua. Kèm theo tính hoàn chỉnh về nghĩa, từ phải có tính hoàn chỉnh về cấu tạo, tức là có hình thức ngữ âm cố định.
Ta không thể chia tách hoặc chêm xen một yếu tố phụ vào giữa hai yếu tố cấu thành một từ (tức giữa từ). Nếu có sự chia tách hoặc chêm xen khác thì nó sẽ phá vỡ tổ chức cấu trúc và ngữ nghĩa ban đầu. Từ ví dụ trên nếu xen vào giữa từ “cà chua” một từ khác như: “quả cà pháo bị chua” thì nó lại mang nghĩa khác biểu thị một loại cà có thuộc tính là chua. Hoặc ví dụ từ “máy bay” với nghĩa ban đầu là loại sự vật được cấu tạo bằng các vật liệu, là phương tiện dùng chuyên chở trên không trung.
Nhưng khi chia tách ra “máy” – “bay” đều có nghĩa nhưng không mang nghĩa ban đầu nữa. Hoặc “cánh gà” là một từ, ta không thể chêm yếu tố phụ vào giữa “cánh” và “gà”. Trừ khi “cánh gà” là cụm từ, ta có thể chen Luan van yếu tố vào giữa : “cánh của gà”. Như vậy, nhờ tính hoàn chỉnh này đã giúp ta xem xét trong cấu tạo nội bộ của từ, phân biệt từ với cụm từ.
Nhưng cũng có trường hợp khác, khi chia tách từ thì từ đó vẫn mang nghĩa ban đầu nhưng phải đặt nó trong cấu trúc câu để nhằm đạt được các mục đích tu từ khác nhau. Ví dụ: “Bướm chán ong chường”. Ở đây, người đọc ngầm hiểu nghĩa của “chán chường” trong cấu trúc câu. Một tiêu chí cần lưu ý để nhận diện từ nữa là: Từ có tính độc lập về ngữ pháp.
Điều đó có nghĩa, từ có thể kết hợp tự do với các từ khác để tạo câu. Từ luôn đứng ở mọi vị trí trong câu, có thể cấu tạo nên cụm từ và tạo nên câu. Hình vị cũng giống từ ở chỗ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất nhưng lại không có khả năng hoạt động tự do mà luôn bị ràng buộc trong từ. Ví dụ: “Quốc kì” là một từ độc lập vì nó có khả năng kết hợp tự do với |lá| … |này| thành “Lá quốc kì này” còn hình vị |quốc| không thể kết hợp tự do như vậy.
Tóm lại, từ là đơn vị phải thỏa mãn cả ba đặc điểm trên, nếu thiếu một hoặc hai đặc điểm thì xem xét ranh giới từ sẽ bị vi phạm và nó không gọi là từ. Các trường nghĩa của từ Có thể nói rằng, từ là tài sản chung của xã hội. Và trong vốn tài sản chung đó được phân chia thành những tiểu hệ thống ngữ nghĩa. Các tiểu hệ thống ấy có quan hệ qua lại với nhau.
Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Mà theo Đỗ Hữu Châu “đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa. Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường” [7, tr. Như vậy hiểu một cách chung nhất, trường nghĩa là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về nghĩa từ vựng.
Chẳng hạn trường nghĩa “đồ dùng” là một tập hợp từ và các từ đều có chung nét nghĩa khái quát này là: giường, tủ, bàn, ghế, sách, bút, cặp, áo, quần, dao, kéo,… Mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn là từ vựng của một ngôn ngữ. Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra “hai dạng chung nhất của ngôn ngữ: quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình)” [dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 7, tr. Dựa vào hai loại quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ đó ta có Luan van hai loại trường nghĩa: trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến). Trong trường nghĩa dọc có hai trường nghĩa là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm.
Kết hợp giữa trường nghĩa dọc và trường nghĩa ngang ta có trường liên tưởng. Sau đây, chúng tôi sẽ lần lượt đi vào tìm hiểu về các trường ngữ nghĩa đó.