Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài luận án. - Chương 2: Các vấn đề lý luận về tự do hóa thương mại dịch vụ và pháp luật tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN. ~ Chương 3: Nội dung pháp luật ASEAN về tự do hóa thương mại dịch vụ và thực tiễn thực hiện. ~ Chương 4: Các cam kết của Việt Nam về tự do hoá thương mại dịch vụ trong ASEAN, thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị.
CHUONG 1 TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CU'U NHUNG VAN DE LIEN QUAN DEN ĐÈ TÀI LUẬN ÁN wee Kể từ khi thành lập Tổ chức thương mại thế giới WTO vào năm 1995 cho đến nay, thuật ngữ “tự do hóa thương mại dịch vụ” thường xuyên được nhắc đến với mức độ tăng dần trên cả phương diện pháp lý và thực tiễn, và trở thành đối tượng nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học của các tác giả khác nhau ở trong nước và nước ngoài. Phạm trù “tự do hóa thương mại dịch vụ” được đề cập trong những công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ được công bố dưới nhiều hình thức ấn phẩm khác nhau và quy mô ở nhiều cấp độ bao. gồm: sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, đề tài khoa học, bài báo khoa học, bài viết hội thảo, các ấn phẩm của các tô chức trong và ngoài nước. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về tự do hóa thương mại địch vụ 1.
Công trình nghiên cứu khái niệm tự do hoá thương mại dịch vụ Vào thời điểm GATS ra đời vào năm 1995, đánh dấu một bước tiến lớn trong việc xây dựng phạm trù "tự do hóa thương mại dịch vụ”. GATS đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm và thể hiện qua các công trình nghiên cứu của mình, đầu tiên phải kể đến cuốn sách “ướng dẫn GATS: tổng quan về các van đề nhằm tự do hóa hơn nữa thương mại dịch vụ” (Guide to the GATS: an overview oƒ issues for further liberalization of trade in services)’. Trong chuong | Tac động của tự do hóa thương mại dịch vụ đến nên kinh tế, tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của tự do hóa thương mại dịch vụ đối với sự phát triển của kinh tế. Đồng thời trong chương | nay tác giả cũng nêu lên tầm quan trọng cla GATS trong việc ban đầu xây dựng phạm trù về “tự do hóa thương mại dịch vụ”.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra phạm trù “tự do hóa thương mại dịch vụ”, tuy nhiên tác giả chưa đưa ra khái niệm cụ thê mà chỉ tiếp cận tự do hóa thương mại dịch vụ theo cách hiểu là tiến trình xóa bỏ các rào cản thương mại dịch vụ thông qua các quy định của GATS. Trong 19 chương tiếp theo (từ chương 2 đến chương 2l), tác giả đưa ra những nội dung cơ bản về các ngành dịch vụ chính được đàm phán trong GATS bao. gồm: Aội /à, định nghĩa và phân loại các ngành, phân ngành dịch vụ cụ thể; Hai la, * WTO Secretariat (2001), Guide to the GATS: an overview of issues for further liberalization of trade in services giá trị kinh tế của từng ngành dịch vụ và cách thức giao dịch quốc tế; 8z /à, phương. thức cam kết đối với từng ngành dịch vụ của các quốc gia thành viên.
Bên cạnh đó, trong các chương này tác giả xem xét các vấn đề mà các thành viên WTO cần phải chú ý đối với mỗi phân ngành dịch vụ khi xác định các mục tiêu đàm phán trong các vòng đàm phán mới. Trong hai chương cuối cùng (chương 22 và 23), nghiên cứu mô tả chỉ tiết về cấu trúc của các cam kết dịch vụ do các Thành viên WTO đệ trình liên quan đến bốn phương thức cung cấp dịch vụ cấu thành định nghĩa về thương mai dich vu theo GATS bao gồm: Phương thức ! (Cung cấp địch vụ qua biên giới), Phương thức 2 (Tiêu dùng ở nước ngoài), Phương thức 3 (Hiện diện thương mại) và Phương thức 4 (Hiện diện thê nhân). Cuốn sách “Thuong mại dịch vụ trong kinh tế toàn câu" ( Trading services in the global economy)` là một công trình nghiên cứu những vấn đề pháp lý về thương mại dịch vụ trên phạm vi toàn cầu, trong đó có tự do hóa thương mại dịch vụ. Cuốn sách được chia làm ba phần với kết cấu gồm 14 chương.
Trong đó vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ được đề cập ở phần 3 7 do hóa thương mại dịch vụ - GATS (The liberalization oƒ service trade - The ŒATS) với kết cầu gồm 6 chương (từ chương 9 đến chương 14). Chuong 9 “Thwong mai dich vu va toan câu hóa” đã khái quát một số quy định của luật quốc tế điều chỉnh thương mại dịch vụ, bên cạnh đó đưa ra một số quan điểm về xu hướng tự do hóa thương mại dịch vụ trên thế g trong thời điểm hiện tại. Trong chương 10 “7 do hóa thương mại dịch vụ - nội dung và tính hợp pháp của GATS”, tác giả đưa ra các quy định của GATS về các cam kết cho các phân ngành dịch vụ của các quốc gia thành viên, từ đó đưa ra một số đánh giá về khung pháp lý mà GATS xây dựng. Chương 11 và Chương 12 của cuốn sách nêu ra những quan điểm của Liên minh Châu Âu (EC) và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (United States) về tự do hóa thương mại dịch vụ.
Trong hai chương cuối cùng (chương 13 và chương 14), tác giả đưa ra quan điểm riêng về ảnh hưởng cửa tự đo hóa thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế và đưa ramột số dự báo trong thời gian sắp tới. Đồng quan điềm với Ban thu ky WTO trong “Huéng dén GATS: tổng quan về các vấn đề nhằm tự do hóa hơn nữa thương mại dịch vụ”, tập thê tác giả luan R. Cuadrado-Roura, Luis Rubalcaba, và Iohn R. Bryson đưa ra phạm trù * Juan R.
Cuadrado-Roura, Luis Rubalcaba, va John R. Bryson (2002), Trading services in the global economy,7 bead Elgar Publishing, UK. “tự đo hóa thương mại dịch vụ” là tiến trình xóa bỏ dần các rào cản thương mại dịch vụ (trade barriers) của các quốc gia thành viên WTO. Một công trình đáng chú ý khác đó là cuốn sách *Tự do hóa thương mại trong ASEAN”.
Tác giả Nguyễn Hồng Nhung trong cuốn sách này đã không tập trung vào xây dựng khái niệm cụ thể về tự do hóa thương mại dịch vụ, nhưng tác giả đã xây dựng được khái niệm về “tự do hóa thương mại”. Tác giả đã chỉ ra rằng các lý thuyết về thương mại quốc tế đã nói rằng trong bắt kỳ thời đại nào, môi trường nào, cạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo, thương mại quốc tế luôn mang lại lợi ích cho các nước tham gia. Tuy nhiên cho dù luôn mang lại lợi ích to lớn nhưng chưa khi nào có xuất hiện “thương mại tự do” đầy đủ và hoàn chỉnh trong lịch sử phát triển của thương mại quốc tế. Đối với hoạt động tự do hóa thương mại, các quốc gia đều thực hiện can thiệp và hạn chế thông qua các chính sách thương mại của mình.
Phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và mục tiêu của quốc gia mà các chính sách thương mại này thay đổi theo từng thời kỳ. Tuy nhiên, dù thế nào thì chúng luôn chịu sự chỉ phối của hai xu hướng cơ bản là thương mại tự do và bảo hộ thương mại. Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Hồng Nhung đã đưa ra định nghĩa tự do hóa thương mại là một thuật ngữ chung để chỉ hoạt động chuyển dan tir chế độ bảo hộ thương mại sang thương mại tự do thông qua việc loại bỏ từng bước các cản trở đối với thương mại quốc tế. Cụ thể hơn, tự do hóa thương mại được hiểu là “quá trình cải cách nhằm xóa bỏ dần mọi cản trở đối với thương mại quốc tế, bao gồm thuế quan và phi thuế quan, được tiến hành trong mối liên hệ với các chính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tế của chính phủ.
Trong luận án tiến sĩ luat hoe “Khu vue thuong mai te do ASEAN (AFTA) va thực tiền hội nhập của Việt Nam "6 tac gia Lé Minh Tién trinh bày một số vấn đề lý luận về Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Mặc dù trong luận án này tác giả đề cập chủ yếu về tự do hóa thương mại ở lĩnh vực hàng hóa, tuy nhiên, tại chương 2, tác giả đã đưa ra những lý luận sâu sắc về bản chất và nội dung của tự do hóa thương mại. Bỏ sung thêm định nghĩa về tự do hóa thương mại trong sách chuyên khảo ?ự đo hóa thương mại trong ASEAIN của tác giả Nguyễn Hồng Nhung, trong phần này, tác giả đã đề cập đến về Nhung (2003), Tự đo hỏa pH ‘mai trong ASEA} hội. (2017) “Khu vực thương mị ự do ASEAN (AFTA) và thực tiền hội nhập của Việt Nai”, Luận án tiển sĩ Luật học, trường Đại học Luvật Hà Nội bản chất, tự do hóa thương mại là quá trình chuyên từ tình trạng chủ nghĩa bảo hộ thương mại, tức là chuyển từ trạng thái đóng cửa hoặc hạn chế su di chuyền của các dong hang héa, dich vu, vốn và người lao động sang tình trạng thương mại tự do, tức là trạng thái mà ở đó, dich vụ, hàng hóa, vốn và người lao động có khả năng lưu chuyền tự do giữa các quốc gia.
Tự do hóa thương mại phải là một quá trình đi từ thấp đến cao, từ cục bộ đến toàn thê. Các biện pháp để thực hiện tự do hóa thương mại chính là việc điều chỉnh theo hướng nới lỏng dần các công cụ bảo hộ thương mại (các rào cản thương mại) đã và đang tồn tại trên cơ sở thỏa thuận đa phương và song phương giữa các quốc gia. Thêm vào đó, trong luận án tác giả còn phân chia các cấp độ của tự do hóa thương mại bao gồm: cấp độ đơn phương, cấp độ song phương và cấp độ khu vực. Như vậy, tác giả chỉ đề cập tới khái ệm về tự do hóa thương mại nói chung, chứ không cụ thể hóa khái niệm “tự do hóa thương mại dịch vụ”.
Tập thẻ tác giả Nguyễn Thanh Binh và Doãn Công Khánh trong bài viết '“Tự do hóa thương mại: Lý luận, kinh nghiệm và giải pháp cho Việt Nam” đã đưa ra quan điểm về khái niệm của tự do hóa thương mại.