Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm Để thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cho xã hội, Chính phủ thành lập các ĐVSN để cung cấp dịch vụ công. ĐVSNCL là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân.
Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo, kinh tế và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế. [11, tr2] Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định: - Có văn bản quyết định thành lập ĐVSN của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương - Được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo quy định. - Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước hiện hành. - ĐVSN mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản kinh phí thuộc NSNN theo quy định của Luật NSNN; được mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ.
- Thực hiện nghĩa vụ với NSNN: ĐVSN có các hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật. - Được huy động vốn và vay vốn tín dụng: ĐVSN có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định. 7 Luan van - Việc quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại ĐVSN. Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước.
Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Đặc điểm - Thứ nhất, ĐVSNCL là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường nhằm, hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khoẻ, văn hoá, tinh thần của nhân dân. - Thứ hai:Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội. Việc sử dụng những "hàng hoá công cộng" do hoạt động sự nghiệp tạo ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chắt được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao. Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.
- Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSNCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình xoá mù chữ, 8 Luan van Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Chương trình nông thôn mới, Chương trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình phủ sóng phát thanh truyền hình. Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển của xã hội. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập - Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ĐVSNCL bao gồm: ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật; ĐVSNCL hoạt động trong lãnh vực giáo dục đào tạo; ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học; ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao; ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực y tế; ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực xã hội; ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực kinh tế.
- Căn cứ vào chế độ sở hữu tài sản của các ĐVSNCL và coi như công lập, các ĐVSN được phân loại để thực hiện quản lý, bao gồm: Các ĐVSNCL của Nhà nước; Các ĐVSN của tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; ngoài ra còn có các ĐVSN của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp là những ĐVSN ngoài công lập như các ĐVSN trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam; các ĐVSN trực thuộc các tổ chức quần chúng khác,… - Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, các ĐVSN kinh tế được phân loại theo mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư như sau: + ĐVSN kinh tế tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; + ĐVSN kinh tế tự bảo đảm chi thường xuyên; + ĐVSN kinh tế tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; + ĐVSN kinh tế do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc tự chủ tài chính Tự chủ tài chính bao gồm: các nguồn lực của tổ chức, các chi phí, việc lập kế hoạch chiến lược, phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính của đơn vị. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng tự chủ tài chính có mối quan hệ với các nguồn lực, các chi phí, sự phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính.
9 Luan van Có thể nhận thức được tự chủ tài chính là cơ chế tạo động lực đơn vị phát triển và gắn liền với cơ chế thị trường, lấy thị trường làm thước đo đánh giá các giá trị của hàng hoá và dịch vụ; nói cách khác, sự tồn tại và phát triển của chúng đều thông qua quan hệ với thị trường, qua đánh giá của thị trường, của người sử dụng, tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ được cung cấp. Tự chủ tài chính là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước: + Giữa Chính phủ với các Bộ, ngành, các địa phương. + Giữa Bộ chủ quản, Bộ quản lý ngành với các đơn vị trực thuộc ở trung ương; giữa UBND tỉnh với các đơn vị địa phương. + Giữa các ĐVSN, cơ quan quản lý nhà nước với các bộ phận, đơn vị dự toán trực thuộc.
Tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính. Tự chủ tài chính đã tạo điều kiện cho ĐVSNCL chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ động phân bổ nguồn tài chính của đơn vị theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả; khuyến khích các ĐVSNCL mở rộng hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu; tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho người lao động; cơ chế tự chủ tạo điều kiện cho ĐVSNCL thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ; nâng cao kỹ năng quản lý, chất lượng hoạt động sự nghiệp [13, tr5]. Việc áp dụng cơ chế quản lý tài chính theo hướng giao quyền tự chủ cho ĐVSN này với mục đích tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho ĐVSN đặc biệt thủ trưởng đơn vị; thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp theo hướng đa dạng hoá các loại hình đồng thời sắp xếp bộ máy tổ chức lao động hợp lý hơn, tăng thêm thu nhập, phúc lợi và khen thưởng cho người lao động. * Mục tiêu thực hiện tự chủ tài chính: - Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho ĐVSN nhằm tạo điều kiện cho đơn vị trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn 10 Luan van lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động.
- Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN. - Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức khoa học và công nghệ, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động khoa học và công nghệ ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn. - Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với ĐVSN với cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước.