CHƯƠNG 1: CĂN CỨ TỪ CHỐI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HOẶC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về từ chối tiến hành tố tụng, thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự Người tiến hành tố tụng Về mặt ngôn ngữ phổ thông, cần phải cắt nghĩa của từng từ kết hợp thành cụm từ “người tiến hành tố tụng” để hình thành nên một khái niệm tương đối hoàn chỉnh. Theo Từ điển Tiếng Việt, “tiến hành” là làm, thực hiện một cách chủ động việc gì đó đã được định trước1. Còn “tố tụng” có thể được hiểu là trình tự, thủ tục được tiến hành theo quy định của pháp luật2. Tuy nhiên, việc kết hợp hai từ trên với nhau chưa thể hiện được trọn vẹn hàm nghĩa của cả cụm từ “người tiến hành tố tụng”.
Chỉ có thể hình dung “người tiến hành tố tụng” là những người thực hiện các công việc của Tòa án theo các trình tự, thủ tục của pháp luật. Trước hết, cần phải xác định NTHTT trong tố tụng dân sự là những người thuộc cơ quan được phép tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật. Hiện nay, theo BLTTDS năm 2015, các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự bao gồm hai cơ quan là TAND và VKSND3. TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện các quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải4.
VKSND là cơ quan được phép thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ con người, bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa5. Tuy nhiên, các cơ quan được trao quyền tiến hành tố tụng này không thể tự mình thực hiện các hoạt động tố tụng mà phải thông qua những con người cụ thể, những cá nhân độc lập nhưng có mối liên hệ chặt chẽ, bổ trợ, thống nhất với nhau trong hoạt động, tổ chức. Trong tố tụng dân sự, BLTTDS năm 2015 không nêu khái niệm cụ thể thế nào là “người tiến hành tố tụng” nhưng chỉ sử dụng phương pháp liệt kê để đưa ra một số 1 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. 2 Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (1), tr.
3 Khoản 1 Điều 46 BLTTDS năm 2015. 4 Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. 5 Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. 6 chức danh tư pháp được gọi là “người tiến hành tố tụng”.
Những chức danh tư pháp đó bao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Viện trưởng Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên6. Do đó, cần phải có một khái niệm tương đối rõ ràng nhất để hình dung được những người nào được xem là “người tiến hành tố tụng”. Từ điển Luật học mặc dù không đề cập trực tiếp đến cách hiểu về thuật ngữ trên, nhưng đã đưa ra một khái niệm có nội hàm tương tự là “người có chức vụ” để chỉ về những người trong cơ quan, tổ chức của Nhà nước có thẩm quyền tiến hành hoạt động mang tính chất pháp lý; là những người được bổ nhiệm hoặc bầu cử để có được những chức vụ mà từ đó có được những quyền hạn trong phạm vi cho phép theo quy định của pháp luật7. Qua những phân tích trên, tác giả đưa ra một khái niệm khái quát về NTHTT trong tố tụng dân sự như sau: Người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự là những cá nhân được bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của pháp luật, thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ việc dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật một cách chủ động, vô tư, khách quan, hiệu quả và chịu trách nhiệm trong các hoạt động tố tụng của mình.
Từ chối tiến hành tố tụng BLTTDS năm 2015 không đề cập đến như thế nào là “từ chối tiến hành tố tụng”, do đó, để hiểu rõ chính xác được ý nghĩa của cụm từ, tác giả tiếp tục sử dụng phương pháp cắt nghĩa từng từ cấu tạo nên nhằm tìm ra nội hàm của cả cụm từ trên. Theo Từ điển Tiếng Việt, “từ chối” có nghĩa là chủ động không nhận cái được dành cho hoặc chủ động không nhận việc được yêu cầu làm8. Thông qua các khái niệm trên, có thể kết luận rằng sự vật, hiện tượng tác động đến con người là phải một sự vật, hiện tượng xuất hiện trước khi có sự “từ chối” của một người. Con người phải trải qua một quá trình tư duy để đánh giá về sự vật, hiện tượng mà từ đó đưa ra sự “từ 6 Khoản 2 Điều 46 BLTTDS năm 2015.
7 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB. Tư pháp – Bộ Tư pháp và NXB. Từ điển bách khoa, tr. 8 Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (1), tr.
7 chối” của mình. Cho nên, có thể hình dung “từ chối” là một hành động của con người mang tính chủ động nhằm đưa ra ý chí của bản thân trong việc không nhận một thứ gì đó hoặc không làm một yêu cầu nào đó đã được đưa ra bởi chủ thể khác vì bất kỳ lý do nào. Vì vậy, “từ chối tiến hành tố tụng” được hiểu là việc NTHTT, sau khi được phân công nhiệm vụ giải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, tự nhận thấy họ thuộc vào những trường hợp do luật định nên chủ động tiến hành việc từ chối thực hiện nhiệm vụ để đảm bảo sự vô tư, khách quan cho quá trình tố tụng dân sự. Thay đổi người tiến hành tố tụng Thuật ngữ “thay đổi người tiến hành tố tụng” không được BLTTDS năm 2015 đưa ra định nghĩa giống như thuật ngữ “từ chối tiến hành tố tụng”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “thay đổi” là động từ mang hàm ý thay cái này bằng một cái khác hoặc đổi khác đi, trở nên khác trước9. Tuy nhiên, cách hiểu này vẫn còn khá mơ hồ và khái quát, chưa định hình được cụ thể như thế nào được xem là “thay đổi”. Do đó, cần phải tiến hành cắt nghĩa chi tiết hơn từng từ “thay” và “đổi” cấu thành nên cụm động từ trên. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thay” có nghĩa là bỏ ra, dùng thay vào đó một cái khác, một người khác thực hiện cùng một chức năng, nhiệm vụ vốn được đảm nhiệm, thực hiện bởi vật khác, người khác nhưng thường mang tính chất tốt hơn, phù hợp hơn10.
“Đổi” là việc thay cái này bằng cái khác hoặc có nghĩa là sự biến chuyển từ trạng thái, tính chất này sang trạng thái, tính chất khác của sự vật, hiện tượng11. Từ đó có thể rút ra được “thay đổi” có nghĩa là việc loại bỏ ra sự vật, hiện tượng này không còn phù hợp, thích hợp nữa và dùng sự vật, hiện tượng khác thay vào để thực hiện cùng một chức năng, nhiệm vụ vốn được đảm nhiệm bởi sự vật, hiện tượng bị bỏ ra nhưng phải mang một trạng thái, tính chất tốt hơn, phù hơn hơn sự vật, hiện tượng ban đầu. 9 Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (1), tr. 10 Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (1), tr.
11 Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (1), tr. 8 Do đó, trong tố tụng dân sự, “thay đổi người tiến hành tố tụng” được hiểu là việc loại bỏ NTHTT được phân công nhiệm vụ nhưng họ không phù hợp, không thích hợp theo những điều kiện do pháp luật quy định (những điều kiện ở đây liên quan đến việc đảm bảo sự vô tư, khách quan cho quá trình tố tụng) và đưa NTHTT khác phù hợp hơn, thích hợp hơn với yêu cầu đó vào thay để đảm nhiệm vai trò, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người bị thay đổi nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan cho quá trình tố tụng dân sự. Khái niệm được đưa ra bên trên cũng tương đồng với cách hiểu của các tác giả tại Từ điển giải thích thuật ngữ luật học12. Vì vậy, mục đích chính của việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi NTHTT chủ yếu nhằm phục vụ cho việc bảo vệ tính khách quan cho các hoạt động tố tụng trong tố tụng dân sự.2 Các căn cứ từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự 1.1 Căn cứ chung từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự Những căn cứ chung về từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi NTHTT trong tố tụng dân sự được các nhà lập pháp xây dựng trong BLTTDS năm 2015 tại Điều 52 với ba căn cứ chính.
Các căn cứ quy định tại Điều này áp dụng cho tất cả những NTHTT trong tố tụng dân sự bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. Tựu chung, BLTTDS năm 2015 đặt ra các nguyên tắc cơ bản là một người không thể đồng thời có hai tư cách pháp lý trong cùng một vụ việc, không tham gia tiến hành tố tụng hai lần với một vụ việc, không tham gia tiến hành tố tụng nếu không đảm bảo sự vô tư khi làm nhiệm vụ,…13. Thứ nhất, người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự. Theo Từ điển tiếng Việt, “đồng thời” có nghĩa là hai việc xảy ra hoặc hai tính chất cùng tồn tại trong cùng một thời gian14.
Do đó, có thể hiểu NTHTT không được 12 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB. Công an Nhân dân, tr. 13 Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB. 14 Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (1), tr.
9 phép tham gia giải quyết VVDS cùng một lúc với hai tư cách tố tụng khác nhau. Theo BLTTDS năm 2015, NTHTT là chủ thể được phép tiến hành các hoạt động mang tính tố tụng nhằm giải quyết VVDS mà đương sự yêu cầu và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của quá trình tố tụng. Đương sự là chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự để tìm kiếm sự bảo vệ cho các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc tham gia tố tụng vì việc giải quyết VVDS có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ sau khi Tòa án thụ lý VVDS.