LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Những đổi mới chính sách của Đảng và Chính phủ trong phát triển nông nghiệp đã giúp Việt Nam hiện nay không chỉ đảm bảo được an ninh lương thực trong nước mà còn dư thừa để thực hiện xuất khẩu. Nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên vững mạnh và chiếm một vị trí đáng kể trên trường quốc tế. Tuy nhiên, khi nhìn vào thực trạng tổ chức sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thì phần lớn các hoạt động này vẫn còn tiến hành dưới hình thức nhỏ lẻ, manh mún, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu và thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai.
Với phương thức sản xuất hiện tại, nền nông nghiệp Việt Nam sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong giai đoạn tới. Cụ thể như sau: (i) đối với hoạt động xuất khẩu nông sản, một mặt Việt Nam phải đảm bảo chất lượng hàng nông sản thỏa mãn những rào cản kỹ thuật về chất lượng như nguồn gốc giống, hàm lượng protein, vitamine. phải đảm bảo giao hàng với khối lượng lớn đúng hạn, nhưng những hỗ trợ từ chính phủ cho hoạt động xuất khẩu nông nghiệp lại đang từng bước bị thắt chặt theo những đòi hỏi đối với một thành viên của WTO. Nói một cách khác, hoạt động nông nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ trở nên khó khăn bởi những đòi hỏi gắt gao của thị trường đầu ra; (ii) mặc dù thời gian qua, chính phủ Việt Nam đã tiến hành xây dựng các chính sách đối hỗ trợ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách khoa học công nghệ, và tiến hành các hoạt động quy hoạch hình thành, phát triển các vùng sản xuất chuyên môn hóa trên quy mô lớn.
Tuy nhiên những hỗ trợ này lại chưa thực sự tạo ra bước đột phá mạnh trong phát triển nông nghiệp, bởi chính phủ Việt Nam chưa xác định chính xác được trọng điểm cần hỗ trợ, chưa thực hiện quản lý một cách hiệu lực và hiệu quả đối với những chính sách, những chương trình hỗ trợ của nhà nước đối với phát triển nông nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. (iii) Nguy cơ các vụ kiện liên quan đến chống trợ cấp của Chính phủ đối với các mặt hàng nông sản mà Việt Nam sẽ yếu thế khi bị khởi kiện. 2 Sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã trải qua qua một tiến trình đổi mới toàn diện cả về sản xuất và hoạt động thưorng mại trong hơn 25 năm qua, đã giành được thành tựu và một vị thế đáng kể. Mặc dù, tỷ trọng GDP nông nghiệp trong tổng GDP của nền kinh tế có giảm đi, nhưng nông nghiệp vẫn giữ một vai trò quan trọng về kinh tế - xã hội, nó đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế đất nước.
Hiện nay nông nghiệp Việt Nam đang phải đương đầu với một số thách thức lớn, rủi ro gia tăng, năng lực cạnh tranh thấp xét cả về cấp độ mặt hàng cũng như doanh nghiệp. Trong tiến trình hội nhập kinh tế vào khu vực và quốc tế, và trong bối cảnh gia nhập WTO đã mang lại nhiều cơ hội cũng như những thách thức, để phát triển một nền nông nghiệp hiện đại,hiệu quả đòi hỏi một sự nổ lực rất lớn. Một chiến lược đầu tư tập trung, đồng bộ cần được đặt trọng tâm vào một số ngành hàng có lợi thế và các doanh nghiệp hàng đầu, đến lượt nó quay trở lại thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành. Toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đang tạo ra nhiều cơ hội nhưng đi kèm theo với nhiều thách thức về môi trường-xã hội.
Là một nước đi lên từ nông nghiệp, hiện vẫn còn khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, gần 60% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và có khoảng 90% người nghèo sống ở nông thôn, việc phát triển nền nông nghiệp không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt kinh tế, mà còn có vai trò quan trọng về mặt xã hội và giữ gìn môi trường sinh thái. Trợ cấp nông nghiệp có vai trò rất to lớn trong quá trình chuyển sang nền nông nghiệp hàng hóa lớn. vấn đề quan trọng là vừa phải sử dụng hợp lý, có hiệu quả trợ cấp nông nghiệp vừa không vi phạm các quy định của Tổ chức thương mại thế giới. Với những lý do nêu trên, vấn đề “Trợ cấp nông nghiệp khi Việt N am là thành viên Tổ chức thương m ại th ể g iớ i” được tác giả lựa chọn để làm đề tài luận văn thạc sỹ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: Đ ề tài luận văn tập tru ng trả lời những câu hỏi sau: Trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam sau khi gia nhập WTO có tác động như thế nào đến vấn đề phát triển nông nghiệp ờ nước ta? 3 Chúng ta đã thực hiện trợ cấp nông nghiệp như thế nào? Những khó khăn vướng mắc trong trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam từ khi là thành viên chính thức của WTO là gì? Những định hướng chiến lược trong trợ cấp nông nghiệp ở nước ta giai đoạn tới là gì? Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nêu trên đề tài luận văn tập trung vào những vẩn đề sau: Hệ thống lý luận cơ bản về trợ cấp nông nghiệp, các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam khi là thành viên của WTO. Phân tích và đánh giá thực trạng về trợ cấp nông nghiệp từ khi Việt Nam là thành viên của WTO đến nay, chỉ ra những kết quả đạt được, những thuận tiện và hạn chế khi triển khai thực hiện trợ cấp nông nghiệp trong giai đoạn vừa qua. Đề xuất các định hướng, giải pháp và khuyến nghị nhằm sử dụng hợp lý trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn tới. Đ ố i tư ợ n g v à p h ạ m v i n g h iề n c ứ u c ủ a lu ậ n v ă n : Đ ố i tư ợ n g n g h iê n c ứ u c ủ a lu ậ n v ă n là: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về trợ cẩp nông nghiệp ở quốc gia thành viên Tổ chức thương mại thế giới.
P h ạ m v i n g h iê n c ứ u c ủ a lu ậ n v ă n : - v ề thời gian: Đe tài tập trung phân tích thực trạng trợ cấp nông nghiệp của Việt Nam từ năm 2007 đến nay và kiến nghị đến năm 2015. - v ề không gian: Nghiên cứu ở tầm vĩ mô, tập trung vào các chính sách và triển khai thực hiện trợ cấp nông nghiệp ở Việt Nam. P h ư o n g p h á p n g h iê n c ứ u Luận văn sử dụng một số phương pháp phổ biến trong nghiên cửu kinh tế như sau: Đối với phương pháp định tính: đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp tiếp cận so sánh., để phân tích, so sánh các lợi ích, bất lợi của các đối tượng thụ hưởng trực 4 tiếp, gián tiếp của chính sách trợ cấp nông nghiệp từ khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới. Đổi với phương pháp định lượng, đề tài tiến hành thu thập thông tin, số liệu từ các Bộ, Ban ngành và số liệu từ các đề tài khác có liên quan để đo lường, đánh giá các tác động của chính sách trợ cấp nông nghiệp lên các đối tượng thụ hưởng.
Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc định hướng chính sách trợ cấp nông nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn tới. Ý n g h ĩa k h o a h ọ c v à th ự c tiễ n c ủ a đ ề tà i: Luận văn hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn chung về trợ cấp nông nghiệp khi Việt Nam là thành viên của WTO. Cung cấp các các luận cứ khoa học và thực tiễn cho các cơ quan hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước, cho các bộ các ngành nhằm sử dụng trợ cấp nông nghiệp phù hợp với tình hình hiện nay và trong phạm vi cho phép theo quy định của WTO. Đánh giá được thực trạng về ừợ cấp nông nghiệp của Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO và tác động của việc sử dụng hợp lý các giải pháp trợ cấp nông nghiệp.
Qua đó dự báo, xác định xu hướng và đề xuất các định hướng, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của trợ cấp nông nghiệp tại Việt Nam. LÝ LUẬN CHƯNG VÈ TRỢ CẤP NÔNG NGHIỆP KHI • • • VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN TỞ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 1. Khái niệm về trợ cấp nông nghiệp: Trợ cấp nông nghiệp là các hình thức hỗ trợ của Chính phủ cho việc sản xuất, tiêu thụ nông sản (cho sản xuất nông nghiệp nói chung, cho một vùng nông nghiệp hoặc cho một sản phẩm cụ thể). Sự hỗ trợ này có thể được thể hiện dưới các hình thức: Một là, hỗ trợ trực tiếp bằng tiền từ Ngân sách Nhà nước (cấp vốn, góp vốn, bảo lãnh vay.); Hai là, miễn hoặc bỏ qua một khoản thu lẽ ra phải nộp cho Nhà nước (ví dụ miễn, giảm thuế, phí.); Ba là, nhà nước mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung) với giá có lợi cho doanh nghiệp hơn bình thường; Bổn là, nhà nước thanh toán tiền cho một đơn vị tài trợ hoặc yêu cầu các đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện một trong các hoạt động nói trên theo cách như nhà nước làm.
Các mặt hàng nông sản được trợ cấp theo Hiệp định Nông nghiệp bao gồm: (i) Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi. (ii) Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt. (iii) Các sản phẩm được chể biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động yật thô. Các biện pháp trợ cấp nông nghiệp: Nhìn chung các biện pháp, chính sách của Nhà nước mang tính ưu đãi, phân biệt đối xử đối với bất kỳ ngành, lĩnh vực nào cũng gây bóp méo đối với nền kinh tế.
Hỗ trợ một ngành trong hầu hết trường hợp sẽ khiến nhiều ngành khác nói riêng và cả nền kinh 6 tế nói chung phải gánh chịu thiệt hại. Những ngành được Nhà nước bảo hộ, hỗ trợ thường không có động lực thực hiện cải tiến năng suất và nâng cao hiệu quả hoạt động.