phần mở đầu, kết u n, danh mục tài iệu tham khảo, u n văn bao gồm 2 chương, 7 tiết: Chƣơng 1: Khái quát về triết học kinh dịch và ảnh hưởng của nó tới đời sống xã hội. Chƣơng 2: Một số nội dung cơ bản của triết học kinh dịch trong tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC KINH DỊCH VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ TỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 1. Sự hình thành và phát triển của triết học Kinh Dịch 1.
Khái niệm về “Kinh” và “Dịch” Kinh ( ) có nghĩa à một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc từ à “quy tắc" hay "bền vững”, hàm rằng tác phẩm này miêu tả những quy u t tạo hóa không thay đổi theo thời gian. Dịch ( ) có nghĩa à “thay đổi” hay “chuyển động”. Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này à rất sâu sắc. Với nghĩa mặt trời, mặt trăng thay đổi v n hành không ngừng.
Mọi người quan sát mặt trời, mặt trăng v n hành, âm dương biến đổi đã phát hiện tính quy u t, phương pháp nh n thức, dự đoán xử sự v t và đặt tên à “Dịch”. Chữ “Dịch” này khái quát từ nghĩa gốc đến nghĩa mở rộng. Nó có ba nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau: Giản dịch ( - thực chất của mọi thực thể. Khái niệm giản dịch dùng để chỉ phương pháp quy nạp.
Vì sinh mệnh con người có hạn, sự trong thiên hạ thì vô cùng, cần phải thông qua phương pháp giản dịch để ấy đơn giản ngăn ngừa phức tạp, ấy một đối với muôn vàn, ấy tĩnh ức chế động, ấy tinh dùng rộng. Đó cũng à bước giải thích công thức của Dịch học, bắt chước mô thức Dịch học để chứng minh rằng, hết thẩy mọi sự v t hiện tư ng trong vũ trụ đều có đủ ở tâm mình, đồng thời tìm ra phương pháp tiếp v t theo mục đích đặt ra. Quy u t nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ, theo phương pháp giản dịch, à hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, bất kể sự biểu hiện của nó khó hiểu hay phức tạp đến mấy. Biến dịch ( ) - hành vi của mọi thực thể.
Biến dịch chỉ phương pháp diễn dịch, bao gồm các phương pháp tìm hiểu tin tức, dự đoán sự v t biến đổi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở bên trong. Mọi v t trong vũ trụ đều iên tục thay đổi. Nh n thức đư c điều này con người có thể hiểu đư c tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau. Bất dịch ( ) - bản chất của thực thể, chỉ định của sự v t.
Vì dịch à xuất phát trong quan sát ghi chép thiên văn, khí tư ng ở thời cổ đại. Thiên thể v n hành, khí tư ng biến đổi đều theo quy u t, cho nên trong thiên thể tất cả mọi sự v t đều chịu ảnh hưởng khí tư ng đó. Chúng cảm ứng ẫn nhau, và cùng có quy u t chung. Mọi v t trong vũ trụ uôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó uôn uôn tồn tại nguyên bền vững - quy u t trung tâm - à không đổi theo không gian và thời gian.
Người xưa thông qua thực tiễn, đã chứng minh u t đó của trời đất, của muôn v t, đồng thời chỉ ra chuẩn tắc để phân biệt hết thẩy những sự v t hiện tư ng ấy. Nói tóm ại, Dịch vừa mang tính quy u t, vừa à phương pháp nh n thức, dự đoán, xử sự v t từ trong việc quan sát mặt trời, mặt trăng v n hành và âm dương biến đổi để từ đó áp dụng cho các sự v t hiện tư ng cụ thể trong đời sống. Bất dịch, biến dịch, giản dịch tuy khác nhau về phương pháp, song chúng đều à công dụng của Kinh Dịch. Sự hình thành và phát triển của Kinh Dịch Kinh Dịch, hay còn gọi à Dịch thuyết, Dịch kinh ( ) à một trong ba bộ kinh cổ nhất của Trung Hoa, sau Kinh Thi và Kinh Thư.
Tuy nhiên, nếu xét về nguồn gốc của nó - tức bát quái, thì nó có thể xuất hiện sớm hơn vào cuối đời Ân, khoảng 1.200 năm trước Tây Lịch. Kinh Dịch không do một người viết mà do nhiều người góp sức trong khoảng một ngàn năm, từ Văn Vương nhà Chu cho đến đầu đời Tây Hán nó mới có hình thức như ngày nay mà chúng ta đư c biết. Như v y, cho đến nay, Kinh Dịch đã tồn tại trên 2.000 năm, thời nào cũng có người tìm hiểu về nó, đồng thời đem riêng của mình và tư tưởng của thời đại rọi vào nó, khiến cho nghĩa và công dụng của nó 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mỗi ngày một nhiều và vì thế, nó trở nên xa nguồn gốc. Mới đầu Kinh Dịch chỉ à sách dùng cho việc bói toán, tới cuối đời Chu nó mới trở thành một sách triết tổng h p với những tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa thời Tiên Tần; qua đời Hán nó bắt đầu có màu sắc tư ng số học, muốn giải thích vũ trụ bằng biểu tư ng và số mục.
Đến đời Tống nó trở thành cơ sở của L học và Đạo học. Kinh Dịch đư c cho à cuốn kinh điển có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy, một ông vua thần thoại trong sử Trung Hoa. Theo nghĩa này thì ông à một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thư ng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), đư c cho à người sáng tạo ra Bát quái với tổ h p của ba hào. Không biết cách đây mấy nghìn hay mấy vạn năm.
Lúc ấy Hoàng Hà có con ong mã hiện hình, ưng của nó có các khoáy thành đám, từ một đến chín, vua ấy coi những khoáy đó, mà hiểu đư c ẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem ẽ đó vạch ra thành nét. Đầu tiên vạch một nét iền, tức à vạch ẻ, để àm phù hiệu cho khí Dương ( ), và một nét đứt, tức à vạch chẵn đề àm phù hiệu cho khí Âm ( ). Hai cái vạch đó gọi à hai Nghi. Trên mỗi Nghi thêm một nét nữa, thành ra bốn cái "hai vạch", gọi à bốn Tư ng.
1 2 3 4 Trên mỗi Tư ng ại thêm một vạch nữa, thành ra tám cái “ba vạch” gọi à tám Quẻ. Càn Ly Cấn Tốn Khôn Khảm Đoài Chấn 1 2 3 4 5 6 7 8 “Tương truyền à tám quẻ mới đầu Phục Hy sắp theo vòng tròn” [25, tr. Sau đó, ông ại đem Quẻ nọ chồng ên Quẻ kia, tức phương pháp trùng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quái, theo thứ tự có thể để thành sáu mươi tư cái “sáu vạch” (sáu hào), gọi à sáu mươi tư Quẻ kép. Dưới triều vua Vũ nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ, đư c ghi chép ại trong kinh Liên Sơn còn gọi à Liên Sơn Dịch.
Liên Sơn có nghĩa à “các dãy núi iên tiếp” trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn, với nội quái và ngoại quái đều à Cấn (tức hai ngọn núi iên tiếp nhau) trong Tiên Thiên Bát Quái. Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào đư c suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (còn gọi à Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, Đất (Khôn) đư c coi như à quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi à thoán hay soán) và khám phá ra à quẻ Thuần Càn (trời) biểu ộ sự ra đời của nhà Chu.
Sau đó ông miêu tả ại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Từ đó có cách sắp xếp mới gọi à Hậu Thiên Bát Quái. Khi vua Chu Vũ Vương (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông à Chu Công Đán tạo ra Hào Từ, để giải thích dễ hiểu hơn nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời nhà Chu (khoảng 1122-256 TCN).
Muộn hơn, trong thời kỳ Xuân Thu (khoảng 722-475 TCN), Khổng Tử đã viết Thập Dực để chú giải Kinh Dịch. Khổng Tử ại soạn ra bảy thứ nữa, à: Thoán truyện, Tư ng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Thoán truyện có hai thiên: Thư ng Thoán và Hạ Thoán; Tư ng truyện có hai thiên: Thư ng Tư ng và Hạ Tư ng; Hệ từ cũng có hai thiên: Thư ng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên, Tiên nho gọi à “Th p dực” (10 cánh). Bảy thứ đó tuy đều tán cho nghĩa Kinh Dịch rộng thêm, nhưng mỗi thứ có một tính cách riêng.
Thoán truyện thích Lời Quẻ của vua Văn Vương, tức à những câu dưới chữ “Lời Thoán nói rằng”. Tư ng truyện thích 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình tư ng của các quẻ và các hào, tức à những câu dưới chữ “Lời Tư ng nói rằng”; thích chung cả quẻ gọi à Đại Tư ng, thích riêng từng hào gọi à Tiểu Tư ng. Văn ngôn truyện trích hai quẻ Kiền (Càn), Khôn. Hệ từ nói về đại thể, phàm ệ của Kinh Dịch và công phu cùng nghĩa trong việc àm Kinh Dịch của Văn Vương, Chu Công.
Thuyết quái nói về đức nghiệp, pháp tư ng và sự biến hóa của tám quẻ. Tự quái nói về những cớ tại sao quẻ này ại để ở dưới quẻ kia. Tạp quái nói về những vụn vặt của các quẻ. Những thiên của Khổng Tử, trước vẫn tách riêng, không phụ thuộc hẳn vào ời quẻ, ời hào của Văn Vương và Chu công.
Đến đời Hán, Phi Trực mới đem Thoán truyện, Tư ng truyện và Văn ngôn truyện áp dụng cho quẻ Kiền h p với Kinh Dịch của Văn Vương Chu Công, để thay vào ời chú thích. Rồi tiếp đến à Trịnh Huyền ại sáp nh p nốt những câu Văn ngôn của quẻ Khôn và Thoán truyện, Tư ng truyện của các quẻ kia. Từ đó bảy thiên Thoán truyện, Tư ng truyện, Văn ngôn mới xen vào trong các quẻ. Và ba thiên còn ại thì để phụ riêng ở cuối sách.
Tới đời Tống, Chu Hy àm sách Chu Dịch bản nghĩa đã sắp đặt ại như cũ, nhưng người ta không theo. Những bản đư c thịnh hành từ trước tới nay vẫn à thể tài của bọn Phi Trực, Trịnh Huyền.