LỜI MỞ ĐẦU. GIAI ĐOẠN BẤT ỔN CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 2020 - 2023: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP Trần Tuấn Vinh, Nguyễn Anh Vũ. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: NHỮNG TỒN TẠI VÀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN Nguyễn Thị Mai Huyên, Nguyễn Đặng Hải Yến, Ngô Sỹ Nam. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Đoàn Thị Cẩm Thư.
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM Nguyễn Thị Thuỷ Hưởng. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY MÔ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP Lê Nguyễn Nguyên Nguyên. CHÍNH SÁCH TRÁI PHIẾU XANH TOÀN CẦU, CHÍNH SÁCH TRÁI PHIẾU XANH VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ Triệu Kim Lanh, Đặng Thị Quỳnh Anh. THỰC TRẠNG TRÁI PHIẾU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM Trần Nguyên Sa.
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU XANH VIỆT NAM: KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Châu Đình Linh. THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU XANH VIỆT NAM: BÀI HỌC TỪ THẾ GIỚI VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH Nguyễn Văn Phúc. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU XANH TẠI VIỆT NAM Huỳnh Quốc Khiêm. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRÁI PHIẾU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM Nguyễn Đăng Quang, Đặng Trí Dũng, Lại Minh Thanh, Bùi Ánh Thành.
TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM: TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC Nguyễn Văn Tân, Vũ Thị Hồng Nhung. KHẢ NĂNG TRẢ NỢ TRÁI PHIẾU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN NĂNG LỰC TÀI CHÍNH Lê Hoài Ân, Phùng Thị Hồng Gấm. KHỦNG HOẢNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á: THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Trương Hoàng, Trần Lê Bảo Hưng. SỰ BẤT THƯỜNG TRONG CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM Phùng Thị Hồng Gấm.
244 vi | KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC FINHUB-2023 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: TRIỂN VỌNG, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP GIAI ĐOẠN BẤT ỔN CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 2020 - 2023: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP Trần Tuấn Vinh Khoa Tài chính - Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM Nguyễn Anh Vũ Phòng Tư vấn tuyển sinh & phát triển thương hiệu - Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM TÓM TẮT Theo ADB, tính đến cuối năm 2022, quy mô1 của thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam tương đương 12,6% GDP, vượt trội so với mức 2,7% của Indonesia và 7,3% của Phillipines; Tuy nhiên, còn khá khiêm tốn nếu so sánh với Thái Lan (26%), Singapore (27,9%) và Malaysia (54,1%). Quy mô này còn nhỏ so với thị trường cổ phiếu và so với tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng. Theo tính toán của nhóm tác giả, quy mô của thị trường cổ phiếu vào cuối năm 2022 là 58,8%2 GDP, gấp khoảng 4,7 lần quy mô của thị trường TPDN. Còn theo VBMA, tổng dư nợ của TPDN chỉ bằng 12% dư nợ của hệ thống ngân hàng vào cuối năm 2022.
Điều này chứng tỏ tiềm năng phát triển trong tương lai của thị trường TPDN Việt Nam còn rất lớn. Trong bài viết này, nhóm tác giả sẽ phân tích thực trạng, nguyên nhân của đợt bất ổn và đưa ra các giải pháp nhằm ổn định thị trường TPDN trong giai đoạn 2020 - 2023. Thực trạng bất ổn được bắt đầu bằng giai đoạn bùng nổ phát hành trái phiếu của năm 2020 - 2021, sau đó, thị trường rơi vào giai đoạn 1 Được tính bằng tổng dư nợ tích luỹ đang lưu hành của TPDN, TPDN trong trường hợp này bao gồm cả trái phiếu do các doanh nghiệp nhà nước phát hành; nếu loại trừ trái phiếu của doanh nghiệp nhà nước, quy mô thị trường TPDN của Việt Nam chỉ tương đương 7,7% (theo ADB). 2 Tác giả tính toán theo dữ liệu được cung cấp bới Uỷ ban chứng khoán nhà nước (SSC).
|1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH bất ổn và thoái trào năm 2022; và cuối cùng là giai đoạn áp lực đáo hạn, mất khả năng thanh toán và gia hạn nợ của năm 2023. Có hai nhóm nguyên nhân chính tạo ra sự bất ổn này: nhóm nguyên nhân tiền đề và nhóm nguyên nhân bản chất. Trong đó, nhóm nguyên nhân tiền đề xuất hiện khách quan và tạo môi trường cho nhóm nguyên nhân bản chất xuất hiện và quyết định sự bất ổn. Giải pháp được đưa ra dưới hai góc độ: thứ nhất là giải quyết các nguyên nhân tiền đề; và thứ hai là giải quyết các nguyên nhân bản chất, để nhanh chóng đưa thị trường về trạng thái ổn định1.
Từ khóa: thị trường trái phiếu doanh nghiệp 1. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP GIAI ĐOẠN: THĂNG HOA 2020 - 2021, THOÁI TRÀO NĂM 2022 VÀ ÁP LỰC ĐÁO HẠN NĂM 2023 Hầu hết, các đợt phát hành TPDN của Việt Nam chủ yếu bằng phương thức phát hành riêng lẻ2, theo quy định tại Nghị định 155/2020/NĐ-CP, các TPDN phát hành riêng lẻ sẽ không được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán. Vì vậy, đối với TPDN phát hành riêng lẻ, sau khi phát hành, trái phiếu chủ yếu được nhà đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, trường hợp cần chuyển nhượng, nhà đầu tư thường bán lại trái phiếu cho các công ty chứng khoán làm đại lý phân phối; do đó, các dữ liệu về giao dịch thứ cấp của TPDN rất khó xác định đầy đủ và chính xác. Vì lý do này, tác giả chỉ phân tích dữ liêu trên thị trường sơ cấp để đánh giá thực trạng của thị trường TPDN của Việt Nam.
Thăng hoa năm 2020 - 2021: Thứ nhất là quy mô của thị trường tăng mạnh chủ yếu đến từ trái phiếu của các doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước. Mặc dù, đang là giai đoạn 1 Theo Akerlof & Shiller (2015), đối phó với bất ổn hoặc khủng hoảng cũng giống như dịch bệnh, đòi hỏi phải phản ứng quyết liệt và tức thì để đưa thị trường về trạng thái ổn định. 2 Theo báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu 2022 của Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), giá trị TPDN phát hành ra công chúng năm 2022 là 4,15%, năm 2021 là 4,10%, và năm 2020 là 7,10%; còn lại là phát hành riêng lẻ. 2| KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC FINHUB-2023 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: TRIỂN VỌNG, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP dịch bệnh Covid nhưng năm 2020 và 2021 lại là năm thăng hoa đối với thị trường TPDN Việt Nam, với quy mô thị trường trong hai năm này tăng mạnh so với năm 2019.
Nếu tính phần giá trị trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thì quy mô thị trường TPDN của Việt Nam năm 2020, 2021 là 50,8 tỷ USD và 55,7 tỷ USD tăng lần lượt là 79,5% và 96,8%, tương đương với quy mô của GDP lần lượt là 17,08% và 15,00% so với mức 10,85% của năm 2019. Nếu không tính phần giá trị trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thì quy mô thị trường TPDN của Việt Nam năm 2020, 2021 có sự tăng trưởng so với năm 2019 ngoạn mục hơn, lần lượt là 175,5% và 497,8% (xem Bảng 1). Như vậy, có thể thấy rằng sự tăng trưởng mạnh của thị trường TPDN Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu đến từ trái phiếu của các doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước. Đây là một nhân tố tiềm ẩn rủi ro cho các nhà đầu tư đối với kênh TPDN, vì các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thường chịu giám sát chặt chẽ của pháp luật tốt hơn các doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước.
Bảng 1: Quy mô thị trường TPDN giai đoạn 2019 - 2021 Giá trị TPDN (không tính DNTSHNN) Giá trị TPDN (tính DNTSHNN) Năm Theo VND Theo USD %GDP Theo VND Theo USD %GDP 2019 104.950 55,7 15,00% ***DNTSHNN: Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước Nguồn: ADB Thứ hai là giá trị phát hành tăng mạnh chủ yếu đến từ trái phiếu của các doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước. Trong đó, tốc độ tăng của giá trị phát hành đối với TPDN không tính DNTSHNN trong 2020 và 2021 lần lượt là |3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Trong khi đó, nếu tính bao gồm phần của DNTSHNN thì tốc độ này chỉ lần lượt ở mức 58,00% và 36,47% (xem Bảng 2). Bảng 2: Giá trị phát hành TPDN giai đoạn 2019 - 2021 Giá trị TPDN (không tính DNTSHNN) Giá trị TPDN (tính DNTSHNN) Năm Theo VND Tốc độ Theo VND Tốc độ 2019 11.073 36,47% ***DNTSHNN: Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước Nguồn: ADB Trong đó, chủ yếu tập trung vào nhóm tổ chức tín dụng và bất động sản; với số lượng trái phiếu không có tài sản đảm bảo chiếm tỷ trọng khá cao (xem Bảng 3).
Đây cũng là nhân tố tiềm ẩn rủi ro cho thị trường TPDN. Bảng 3: Cơ cấu phát hành TPDN Tiêu chí 2020 2021 Không có tài sản đảm bảo 48,80% 50,20% Tỷ trọng TCTD và BĐS 61,50% 69,34% Nguồn: VBMA (2020 & 2021) Thoái trào năm 2022: Thứ nhất, quy mô của thị trường trên GDP giảm mạnh. Theo ADB, giá trị TPDN đang lưu hành tích luỹ đến cuối năm 2022 của Việt Nam là 1.553 tỷ đồng (tương đương 50,8 tỷ USD, và 12,6% GDP), nếu loại trừ lượng trái phiếu do các doanh nghiệp nhà nước phát hành, con số này là 730. Quy mô của thị trường TPDN trên GDP đã giảm mạnh so với năm 2020 (với 17,1%) và năm 2021 (với 15%) (xem Hình 1).
4| KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC FINHUB-2023 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: TRIỂN VỌNG, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP 1.000 0,0 2020 2021 2022 TPDN (tỷ VND) TPDN (% GDP) Hình 1: Quy mô của thị trường TPDN từ 2020 - 2022 Nguồn: ADB Thứ hai, tổng giá trị phát hành giảm và có xu hướng giảm mạnh ở các tháng cuối năm. Tổng giá trị phát hành trong 2022 giảm mạnh 47% so với 2021, chỉ đạt 337.132 tỷ đồng (xem Hình 2); nếu chỉ tính giá trị trái phiếu phát hành của các doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, mức giảm này lên đến 58% với giá trị đạt được là 155. Trong đó, các doanh nghiệp thuộc ngành bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng và năng lượng có mức sụt giảm lớn nhất xoay quanh mức 80% (VBMA, 2022). Đặc biệt, giá trị phát hành sụt giảm nghiêm trọng vào các tháng cuối năm ngược với năm 2021 (xem Hình 3), cụ thể tổng giá trị TPDN phát hành quý 4/2022 chỉ đạt 5.489 tỷ đồng giảm 98,2% so với cùng kỳ 2021 và 91,8% so với quý 3/2022.