MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vẫn đề nghiên cứu Mỗi quan hệ hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại, một mặt đang trải qua những thay đổi quan trọng, mặt khác lại mang tính khủng hoảng với sự tăng lên của những mâu thuẫn và sự suy thoái của đời sống tâm lí gia đình. Điều đó đơjợc phản ánh trong các nghiên cứu của những nhà tâm lí học trên thế giới nhơỊ: Akkerman, E. Gia đình Việt Nam hiện đại cũng chịu ảnh hojởng của những thay đổi đó.
Trong thực hành lâm sàng về gia đình tồn tại rất nhiều những khó khăn: sự phức tạp của gia đình vốn đojợc coi nhơi một cấu trúc xã hội thu nhỏ, tâm lí che dấu những mẫu thuẫn xảy ra trong đời sống gia đình và quá trình diễn ra những biến cô đó. Vì vậy việc thực hành lâm sàng để hỗ trợ quan hệ hôn nhân gia đình là thật sự cần thiết, để từ đó góp phần chân đoán trojớc những khó khăn và cho phép tìm ra những phojơng pháp hỗ trợ về tâm lí, giúp tiến hành các hoạt động thực tiễn trong việc phát triển mối quan hệ gia đình, củng cố quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ con cái và phát triển một đời sống hôn nhân gia đình ôn định, bền vững. Hiện nay, chân đoán rối loạn sự thích ứng (AdJjustment Disorders - AD) là khá phổ biến, oJớc tính tỷ lệ mắc phải chiếm 21% trong số các dịch vụ tơi vấn tâm thần cho ngơjời lớn. Phụ nữ trolởng thành đơiợc chân đoán gấp đôi so với đàn ữg trojởng thành.
Đối với trẻ em và thanh thiếu niên, tỉ lệ bé gái và bé trai đơiợc chân đoán ở dạng này là nhơ nhau. AD da dojge dja vào hệ thống phân loại rối loạn ân thần gần 30 năm trojớc, nhơng các hội chứng tojơng tự đã đojợc công nhận tong nhiều năm trojớc đó (Maercker, Hecker, Augsburger, & Kliem,2018). Trị liệu cấu trúc gia đình cũng đoiợc cho là có hiệu quả trong việc trị liệu trẻ vị thành niên bị rối nhiễu nho rối loạn hanh vi(Chamberlain, Rosicky, 1995), chinh vi vậy trong quá trình can thiệp tôi gqu tién sir dung phojong phap diéu trị này bên cạnh một số liệu pháp tâm lý cá nhân. Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Áp dụng trị liệu hệ thống và cẫu trúc gia đình can thiệp cho một trẻ có khó khăn tâm lý”.
Nhg vay, trong phạm vi của nghiên cứu, chúng tôi hỗ trợ cho một trẻ vị thành niên có khó khăn tâm lý là AD. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xác định các vấn đề lý luận về AD; phân tích lý thuyết hệ thống và lý thuyết cấu trúc gia đình và cách thức hỗ trợ thân chủ có rỗi loạn sự thích ứng. - Đánh giá và chân đoán AD cho một trẻ vị thành niên. - Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch trị liệu cho trẻ vị thành niên có AD.
- Đơla ra một số nhận xét, đánh giá về tiễn trình lâm sàng cũng nho hiệu qua can thiệp cho một trẻ. CO SO LY LUAN VE ROI LOAN SU THICH UNG, LY THUYET HE THONG VA LY THUYET CAU TRUC GIA DINH 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu/can thiệp 1. Các nghiên cứu ở nớc ngoài AD đề cập đến sự hiện diện của các triệu chứng lâm sàng gây ra bởi việc tiếp xúc với một yêu tô gây căng thăng tâm lý xã hội (Tổ chức Y tế Thế giới, 2018; Hiệp hội tâm thần Hoa Ky, 2013).
Sự rối loạn này có thé biểu hiện trong các triệu chứng nhận thức, nhơi lo lắng quá mức về hậu quả của tác nhân gây căng thang; trong các triệu chứng cảm xúc, chẳng hạn nhơi tâm trạng xuống thấp hoặc trong các triệu chứng hành vi, chang han nho rot khỏi các tojong tác xã hội. Những triệu chứng này gây ra đau khô đáng kể và can thiệp vào chức năng tâm lý xã hội của cá nhân bị ảnh hojong. DSM-I năm 1952 mô tả điều này là “Rối loạn Nhân cách Tình huống Nhất thoi” (APA, 1952) là tinh dé bị tôn thojong trong các tình huống căng thẳng. Các dạng phụ này của thực thể là phản ứng căng thẳng tổng thể, phản ứng tình huống của ngojời lớn, phản ứng điều chỉnh của thời thơ ấu, phản ứng điều chỉnh của thời thơ ấu, phản ứng điều chỉnh của tuổi vị thành niên và phản ứng điều chỉnh của giai đoạn cuối cuộc đời.
Trong DSM-II (APA, 1968) đojợc đổi thành Rối loạn hoàn cảnh thoáng qua và các dạng phụ là phản ứng điều chỉnh của thời thơ ấu, phản ứng điều chỉnh của tuổi vị thành niên, phản ứng điều chỉnh của cuối đời, và phản ứng điều chỉnh của cuộc sống trojởng thành. DSM-III (APA, 1980) da doja ra thuat ngtr AD, trong đó các giai đoạn phát trién trong phan loai chân đoán bị loại bỏ và các loại phụ dựa trên trải nghiệm cảm xúc. Đó là AD với tâm trạng chán nản, tâm trạng lo lắng, các đặc điểm cảm xúc hỗn hợp, rối loạn hành vi, rối loạn hỗn hợp cảm xúc và hành vi, ức chế làm việc, rút lui và các đặc điểm không điển hình. Trong DSM IV (APA, 1994), các dạng phụ của các đặc điểm cảm xúc hỗn hợp, ức chế công việc, rút lui và phàn nàn về thể chất đã bị loại bỏ.
Yếu tố gây căng thang dojgc ton tại trong một khoảng thời gian không xác định và một mô tả về tinh chất kinh niên (hơn 6 tháng) đã đơjợc chỉ định. Tâm trạng lo lắng, các đặc điểm cảm xúc hỗn hợp, rối loạn hành vi, rỗi loạn cảm xúc và hành vi hỗn hợp, ức chế công việc, rút lui và các đặc điểm không điển hình. Trong hệ thống chân đoán ICD, AD đơiợc đơỊa vào ICD 9 vào năm 1978 (WHO, 1978). Dự án Kết quả của Mạng lới Trầm cảm Quốc tế (ODIN) cho thấy AD 6 dojéi 1% dan sé.
Khảo sát toàn cầu, bác sĩ tâm thần đã đơjợc yêu cầu chỉ ra những loại rối loạn họ đã gặp ít nhất một lần một tuần trong thực hành của họ (Reed và cộng sự 2011), AD xếp thứ 7 về loạn tâm thần (44 loại đojợc đoỊa ra trong xếp hạng). Nó đứng su trầm cảm (ding thu 1), tam than phân liệt (thứ 2): rồi loạn long cuc (thir 3) va vojot hơn so với rồi loạn sử dụng rợu (thứ 8), rồi loạn nhân cách ranh giới (thứ 11) hoặc rồi loạn căng thẳng sau sang chan (thứ 15). Hầu hết ghi nhận trên 44 quốc gia đều chỉ ra vai trò quan trọng mà AD ảnh hơlớng tới trong việc thực hiện chăm sóc sức khỏe tỉnh thần. Một cuộc khảo sát trên toàn thế giới thứ hai đã đojợc thực hiện trên các ca lâm sàng mà nhà tâm lí chẩn đoán hoặc điều trị trong hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia.
Nghiên cứu này cũng bao gồm vài ngàn ngoiời tham gia khảo sát trong 25 nojớc, liên quan đến cùng một câu hỏi về “loại rối loạn họ đã gap it nhất một lần một tuần trong thực hành lâm sàng”; phát hiện tơjơng tự đã xuất hiện: AD xếp thứ 9 (Evans và cộng sự 2013). Nó xếp sau tram cam (xép thir 1), Lo lang hon hop va roi loan tram cam (thứ 2), rồi loan lo du tong quát (thứ 3), và nó xếp trojdc rồi loan nhân cách ranh giới đợc đánh số (thử 12), agoraphobia (thứ 19) và giấc ngủ không tuần tự hữu cơ (thứ 20). Điều này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của AD trong việc chú ý chăm sóc sức khỏe hiện nay. Xem xét kỹ hơn là dữ liệu từ các nojớc nói tiếng Đức (Maercker và cộng sự 2014), chúng xác nhận tần số và sự phổ biến của các bác sĩ lâm sàng đã chân đoán ở các nojớc này.
Tuy nhiên, những nghiên cứu khảo sát đồng thời chỉ ra rằng AD xếp hạng phần trăm thấp nhất (33%) về yếu tố đễ chẩn đoán hoặc mức độ phù hợp trong chân đoán hàng ngày. Điều này chỉ ra rằng các bác sĩ lâm sàng không cảm thấy thoải mái với chẩn đoán chính thức theo định nghĩa hoặc theo tiêu chí lâm sàng khi chân đoán bệnh nhân hoặc khách hàng. Những sự không chắc chắn tơiơng ứng đến những điểm yếu và thiếu sót của AD hiện tại định nghĩa trong ICD-10 hoặc DSM-IV/S. Các phát hiện nhất quán về việc sử dụng chân đoán AD trong chăm sóc sức khỏe đơjợc hỗ trợ bởi sự phô biến khác nhau nghiên cứu trong các khu vực lâm sàng cụ thé.
Trong các mẫu tâm thần liên quan, tỷ lệ AD lên đến 50% đã đơiợc chỉ ra (ví du nho trong bệnh tim mãn tính, ung thơ biểu mô, bệnh nhân bỏng; sự căng thang), (Over và cộng sự 2012). Các bác sĩ lâm sàng hiện thống nhất sử dụng định nghĩa AD cũng nhơt các vấn đề liên quan theo ICD-10 hoặc DSM-5. Hành vi tự sát là nổi bật ở những ngojời gặp AD ở mọi lứa tuổi và có tới 1⁄5 nạn nhân tự tử vị thành niên có thể bị AD. Bronish và Hecht (1989) đã phát hiện ra rằng 70% bệnh nhân mắc bệnh AD đã cố tự tử ngay lập tức trojớc khi nhập viện và họ đã hồi phục nhanh hơn một nhóm so sánh với chứng trầm cảm lớn.
Asni và cộng sự (1993) phát hiện ra rằng bệnh nhân AD báo cáo ý tojởng dai đẳng hoặc cố gắng tự tử it thojong xuyén hon so với những ngoiời đơyợc chân đoán mắc bệnh trầm cảm nặng. Henriksson và cộng sự (2005) đã thống kê rằng các yếu tố gây căng thẳng có một nửa liên quan đến các vấn đề của cha mẹ và một phần ba trong đến từ các vấn đề bình đẳng. Một giả thuyết về AD là nó có thể đại diện cho một hội chứng lâm sàng dojới ngojỡng. Một số yếu tố gây căng thẳng thojờng phổ biến hơn ở các nhóm tudi trojong thành (Henriksson và cộng sự (2005)): - _ Xung đột hôn nhân; - _ Xung đột tài chính; - _ Vấn đề sức khỏe với bản thân, bạn đời hoặc trẻ em phụ thuộc; -_ Bi kịch cá nhân nhơ| cái chết hoặc mất mát cá nhân; - _ Mất việc hoặc điều kiện làm việc không ôn định, ví dụ nho tiép quan cong ty hoặc kế thừa.
Ở tuổi thiếu niên và tuổi thơ (Henriksson và cộng sự (2005)): - _ Xung đột gia đình hoặc ly thân; - Van dé vé trojờng học hoặc thay đổi trojờng học; - _ Vấn để tình dục; - __ Cái chết, bệnh tật hoặc chắn thơiơng trong gia đình. Các nghiên cứu trên đã tập trung vào các triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán của AD cũng nhơi một số gây căng thăng phô biến có thé dẫn tới AD. NhơIng đopcó nhiều nghiên cứu về trojờng hợp AD, đặc biệt là AD ở trẻ vị thành niên, một lứa tuổi có nhiều yếu tố khiến căng thẳng trở thành AD.