Chương I : Thực trạng thị trường thời trang thế giới và trong nước. Thị trường thời trang thế giới: -Thời trang thế giới là một chiến trường ồ ạt các hãng thởi trang cạnh tranh quyết liệt về thiết kế, giá cả và chất lượng. Chính vì thế , hiện nay thời trang thế giới rất cao cấp. Hiện nay có rất nhiều hãng thời trang ra đời và khẳng định mình trong lĩnh vực này như: D&G Burberry Chanel Dior -Thời trang thế giới vô cùng phong phú về chất liệu, màu sắc và kiểu dáng.
Các hãng thời trang ra sức tung ra thị trường cái mới để tạo ấn tượng trong lòng người tiêu dùng. Thị trường thế giới là một thị trường phong phú. Thị trường thời trang Việt Nam: Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu thị trường thì Việt Nam hiện đang là một th ị trườn g tiềm năn g t rong lĩnh vực thời trang. Việc đổ xô của hàng loạt các thương hiệu thời trang nổi tiếng như GucciÝ), ( Lacoste (Pháp), hay Thump (Hồng Kông).
vào Việt Nam đã cho thấy rõ Việt Nam hiện đang dần trở nên có uy tín đối với các hãng thời trang trên thế giới. Với sự tăng trưởng vượt bậc của nền kinh tế, mức sống người dân ngày một nâng cao, thị trường thời trang Việt cũng có những bước phát triển song hành. Người Việt Nam giờ đây cũng tỏ ra “thoáng tay” khi sẵn sàng trả vài nghìn USD cho một cái áo hàng hiệu h ay một chiếc túi da cá sấu đắt tiền. Cùng với sự phát triển đó là sự mọc lên của hàng loạt các cửa hiệu, các trung tâm thời trang lớn kinh doanh những bộ trang phục với đủ kiểu dáng, màu sắc phục vụ cho nhiều đối tượng với phong cách và gu thẩm mỹ khác Nhiều thương hiệu thời trang cao cấp cũng dần nhận ra Việt Nam đang đủ điều kiện trở thành thị trường đầy tiềm năng cho hãng mình.
Một trong những sự kiện lớn trong làng thời trang Việt Nam gần đây, đó là sự xuất hiện của hai “đại gia” trong làng thời trang thế giới là Lacoste (Pháp) và Gucci (Ý). Vi ệt Nam là một thị trường có dân số trẻ, thu nhập bình quân đầu người ngày một tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu mua sắm hàng thời trang của người Việt lại bắt nhịp nhanh với các nước trên thế giới. Sự đổ xô của các thương hi ệu thời trang nổi tiếng thế giới vào thị trường nội địa đòi hỏi các hãng thời trang trong nước cần có một chiến lược đúng đắn để có thể cạnh tranh được với sự đổ xô ồ ạt của các thương hiệu ngoại nhập.
Nắm được tâm lý này, các nhà thiết kế trong nước đã biết định hướng sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam. Nhiều bộ trang phục được thiết kế tiện dụng, bớt đi tính chất màu mè, biểu diễn. Đa số các nhà thiết kế của các hãng thời trang nổi tiếng không đi sâu vào thiết kế các sản phẩm thời trang cao cấp với giá cao ngất ngưởng mà tập trung vào thiết kế các sản phẩm thời trang ứng dụng, có giá cả phù hợp với đa số người Việt Nam. Gần đây, Tổng Công ty may Việt Tiến vừa giới thiệu ra thị trường dòng sản phẩm San sciaro.
Đây là nhãn hiệu thời trang nam dành cho giới doanh nhân mang phong cách Ý, nhãn hiệu này góp phần vào sự thành công trong sự kết nối của giới doanh nhân Việt Nam với doanh nhân trên thế giới, đồng thời tạo nên tinh thần tự tôn dân tộc cho các doanh nhân Việt Nam khi làm việc với các đối tác quốc tế. Với giá cả hợp lý cùng các mẫu thiết kế phù hợp với phong cách ăn mặc của đa số người Việt Nam, các thương hiệu nổi tiếng trong nước như Blue Exchange, Viethy. và các ản s phẩm của Tổng công ty may Việt Tiến, Nhà Bè. vẫn là sự lựa chọn của đa số người Việt Nam.
Các cửa hàng chuyên bày bán các sản phẩm thời trang của các hãng này luôn thu hút một số lượng lớn khách hàng, đa số là các bạn trẻ. Giá cả chính là một lợi thế để các sản phẩm thời trang mang thương hiệu Việt cạnh tranh được với các thương hiệu nước ngoài, tuy nhiên, một khi mức thu nhập của người dân ngày càng ổn định hơn thì tất nhiên, chất lượng cũng như kiểu dáng mới là sự lựa chọn hàng đầu. Làm được điều này, đòi hỏi các nhà thiết kế trong nước phải được đ ào tạo một cách bài bản, đồng thời không ngừng học hỏi, đổi mới để có thể cạnh tranh được trong một lĩnh vực còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam này. Chương II : Nghiên cứu trang phục dạo phố.
Khái quát trang phục Việt Nam: Việt Nam bao gồm nhiều dân tộc, trong đó người Kinh có số dân đông nhất và là một trong những tộc người có gốc tích lâu đời trên dải hình chữ S đất này. Mỗi dân tộc mang đậm nét một bản sắc văn hóa độc đáo. Do đó, trang phục nói chung của từng tộc người nói riêng thật phong phú đa dạng và đầy tính năng qua từng thời kỳ của lịch sử Việt Nam từ trước đến ngày nay. Trang phục là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống của nhân dân ta.
Với tính chất thực dụng, nó là một sản phẩm; dưới góc độ thẩm mỹ, nó lại là một tác phẩm. Chức năng cơ bản trước nhất của nó là bảo vệ con người. Về mặt này, trang phục dân tộc Việt đã đạt được hiệu quả cao. Từ khi giành lại được quyền độc lập, tự chủ vào thế kỷ X, các vương triều phong kiến đã lưu ý đến một sự thống nhất trong đa dạng, với những quy chế, thể lệ.
Tính thống nhất này cũng có thể nhận thức được qua tính giai cấp trên trang phục, ở từng mẫu áo, kiểu quần, màu sắc, hoa văn, trang điểm. Trang phục thể h iện tôn ti, trật tự phon g k iến, n găn cấm mọi sự v i phạm. nay, trang phục của Quân đội nhân dâ n đã "vượt khung" khỏi phạm vi của một tộc người cụ thể, trở thành một sự thống nhất Việt Nam.1Quan niệm về mặc và chất liệu may của người Việt Cổ: Đối với con người, sau ăn thì đến Mặc là cái quan trọng. Nó giúp cho con người đối phó được với cái nóng, cái rét của thời tiết, khí hậu.
Nhân dân ta nói một cách đơn giản : Được bụng no, còn lo ấm cật .Vì vậy, cũng như trong chuyện ăn, quan niệm về mặc của người Việt Nam trước hết là một quan niệm rất thiết thực : “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền và Cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết”. Nhưng mặc không chỉ để đối phó với môi trường, mặc có một ý nghĩa xã hội rất quan trọng : “Quen sợ dạ, lạ sợ áo”. Người ta hơn kém nhau nhiều khi bởi nó : “Hơn nhau cái áo manh quần Thả ra ai cũng bóc trần như ai” và người ta khổ sở nhiều khi cũng vì nó: “Cha đời cái áo rách này Mất chúng mất bạn vì mày áo ơi!” Mặc trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong mục đích trang điểm, làm đẹp cho con người: “Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân, chân tốt về hài, tai tốt về hoa”. Mỗi dân tộc có cách ăn mặc và trang sức riêng, vì vậy, cái mặc trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc.
Mọi âm mưu đồng hóa sau khi xâm lăng đều bắt đầu từ việc đồng hóa cách ăn mặc. Từ nhà Hán cho đến Tống, Minh, Thanh, các triều đại phong kiến Trung Quốc xâm lược luôn kiên trì dùng đủ mọi biện pháp buộc dân ta ăn mặc theo kiểu phương Bắc song chúng luôn thất bại. Các vua nhà Lí, Trần cho dạy cung nữ tự dệt vải, không dùng vải vóc nhà Tống. Trong lời hiệu triệu tướng sĩ đánh quân Thanh, Quang Trung viết : “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng.” Chất liệu may mặc, để đối phó hữu hiệu với môi trường tự nhiên, người phương Nam ta sở trường ở việc tận dụng các chất liệu có nguồn gốc thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với xứ nóng.
Trước hết, đó là tơ tằm. Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang có từ rất sớm. Trong những di chỉ khảo cổ thuộc hậu kì đá mới cách nay khoảng 5000 năm (như di chỉ Bàu Tró), đã thấy có dấu vết của vải có dọi xe chỉ bằng đất nung. Cấy lúa và trồng dâu, nông và tang - đó là hai công việc chủ yếu luôn gắn liền nhau của người nông nghiệp Việt Nam.
Các sách cổ Trung Quốc như Thủy kinh chú, Tam đô phú, Tề dân yếu thuật đều nói rằng đến đầu công nguyên, trong khi Trung Qu ố c một năm chỉ nuôi được 3 lứa tằm thì năng suất tằm ở Giao Chỉ, Nhật Nam, Lâm ấp một năm đạt được tới 8 lứa. Để có được nhiều lứa tằm trong năm, tổ tiên ta đã lai tạo ra được nhiều giống tằm khác nhau phù hợp với các loại thời tiết nóng, lạnh, khô ẩm. Đây là một nghề hết sức vất vả cực nhọc : Làm ruộng ba năm không bằng chăn tằm một lứa; Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng. Từ tơ tằm, nhân dân ta đã dệt nên nhiều loại sản phẩm rất phong phú : tơ, lụa, lượt, là, gấm, vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, dũi, địa, nái, sồi, thao, vân,.
mỗi loại lại có hàng mấy chục mẫu mã khác nhau. Vải tơ chuối là một mặt hàng đặc sản của Việt Nam mà đến TK VI, kĩ thuật này đã đạt đến trình độ cao và rất được người Trung Quốc ưa chuộng. Họ gọi loại vải này là "vải Giao Chỉ". Sách Quảng chí chép : "Thân chuối xé ra như tơ, đem dệt thành vải.
Vải ấy dễ rách nhưng đẹp, màu vàng nhạt, sản xuất ở Giao Ch ỉ". Cho đ ến tận TK XVIII, lo ại vải này vẫn rất đ ược ưa chuộng, Cao Hùng Trưng trong sách An Nam chí nguyên còn ca ngợi : "loại vải này mịn như lượt là, mặc vào mùa nực thì hợp lắm". Vải dệt bằng sợi tơ đay, gai cũng xuất hiện khá sớm. Đất đai và khí hậu Việt Nam rất thích hợp cao những loại cây này phát triển, tổ tiên ta không những biết tận dụng khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có này mà còn thuần dưỡng chúng thành loại cây trồng phổ biến.
Sách Trung Quốc thời Hán, Đường đều nói rằng đay, gai ở An Nam mọc thành rừng, dùng để dệt vải.