phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. Trách nhiệm xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.
Khái niệm trách nhiệm xã hội Công bằng xã hội, đoàn kết xã hội và TNXH là những yếu tố quan trọng giúp duy trì sự ổn định của xã hội, đồng thời chúng cũng là những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Để làm rõ khái niệm TNXH, trước hết phải làm rõ khái niệm trách nhiệm. Khái niệm trách nhiệm được cấu tạo bởi hai từ “trách” và “nhiệm”: Trách được hiểu là phận sự phải làm còn nhiệm (nhận) là gánh vác công việc phải làm. Do vậy, nghĩa của khái niệm “trách nhiệm” là gánh vác công việc, nhiệm vụ, chức năng phải làm hoặc được giao phó, phải hoàn thành công việc, nhiệm vụ, chức năng đó (nếu không hoàn thành công việc, nhiệm vụ, chức năng đó thì phải chịu hậu quả - chịu trách nhiệm).
Mỗi con người sống trong xã hội đều có trách nhiệm trước bản thân, gia đình, tập thể và cộng đồng. Sở dĩ người ta được thừa nhận và có thể có được những vị trí nhất định trong các mối quan hệ, các tổ chức chính trị xã hội nhất định là vì con người ấy đã làm tròn bổn phận, vai trò của mình. Trách nhiệm là một khái niệm thuộc phạm trù luật học, đạo đức học và xã hội học. phản ánh thái độ xã hội đặc biệt thể hiện thái độ đạo đức - pháp luật của cá nhân, cộng đồng đối với xã hội và đối với nhân loại nói chung, thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật.
Trong luật học, trách nhiệm được cụ thể ra thành trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm tài chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự… kèm theo với mỗi loại trách nhiệm đó là những quy định chặt chẽ về trách nhiệm bồi thường, các mức phạt cao thấp khác nhau khi không thực hiện trách nhiệm pháp lý. Trong đạo đức học, phạm trù trách nhiệm thể hiện một điều không thể thoái thác, không thể không làm của một chủ thể hành 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động nhằm đáp lại một yêu cầu chính đáng nào đó. Trong xã hội học thì trách nhiệm được xem như là một cam kết tinh thần trong việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức của xã hội. Phạm trù trách nhiệm bao quát vấn đề triết học - xã hội học về mức độ năng lực và khả năng của con người thể hiện ra với tư cách chủ thể của những hành động của mình, cũng như những vấn đề cụ thể hơn, như khả năng của con người có thể thực hiện một cách tự giác (có chủ ý, tự nguyện) những nhu cầu nhất định và hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra cho mình, thực hiện một sự lựa chọn đúng đắn; đạt tới một kết quả nhất định, cũng như các vấn đề có liên quan khác.
Khi bàn về khả năng điều chỉnh hành vi của các chuẩn mực đạo đức, Max Weber cho rằng mọi hành vi được điều chỉnh bởi hai nhóm chuẩn mực: những chuẩn mực dựa trên đạo đức và những chuẩn mực dựa trên trách nhiệm. Ông tin rằng con người hành động không chỉ dựa trên mục đích mà còn dựa trên trách nhiệm. Những chuẩn mực đạo đức dựa trên mục đích và trách nhiệm không hoàn toàn đối lập nhau mà bổ sung cho nhau. Trong chủ nghĩa Mác, vấn đề trách nhiệm mang tính lịch sử - cụ thể và được giải quyết trên cơ sở phân tích mức độ tự do hiện thực của con người trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Việc xây dựng một xã hội không có bóc lột, không có những giai cấp thù địch, việc áp dụng nguyên lý tự giác một cách có kế hoạch vào đời sống xã hội, việc làm cho quần chúng nhân dân quen với việc tự quản lý xã hội và sáng tạo lịch sử sẽ tăng cường mạnh mẽ mức độ tự do của cá nhân và đồng thời, tăng cường TNXH và đạo đức của mỗi người. Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm công dân, trách nhiệm hành chính và hình sự của kẻ vi phạm pháp luật được xác định không phải bằng con đường vạch ra cấu tạo của tội phạm một cách thuần tuý hình thức, mà phải tính đến tình hình giáo dục, đời sống và hoạt động của người đó, mức độ nhận thức tội lỗi và khả năng sửa chữa trong tương lai. Trong đạo đức cộng sản chủ nghĩa, trách nhiệm của cá nhân không chỉ bao hàm những hành vi đã làm, mà cả sự nhận thức của cá nhân về lợi ích của xã hội nói chung, nghĩa là xét đến cùng, nhận thức được các quy luật phát triển của lịch 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều đó làm cho trách nhiệm pháp lý xích gần lại với trách nhiệm đạo đức.
Như vậy, thông qua các cách hiểu về trách nhiệm như đã nêu ở trên, có thể nêu một cách chung nhất khái niệm TNXH đó là ý thức của chủ thể về nghĩa vụ, bổn phận của mình đối với xã hội, với cộng đồng, nó được thể thiện thông qua nhận thức và hành động cụ thể của con người trong các mối quan hệ xã hội và trong cả mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. TNXH bao gồm ba nội dung cơ bản: - Thứ nhất, quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác khoan dung với nhau trong xã hội. - Thứ hai, sự gắn bó (đoàn kết, cố kết) giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội. - Thứ ba, trách nhiệm phải đóng góp vào sự bảo vệ và PTBV của cộng đồng và xã hội.
Sự đóng góp này được thể hiện ở ba mức độ: tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ. Về thực chất, TNXH được hình thành từ quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân. TNXH phản ánh mối quan hệ qua lại giữa cá nhân với cộng đồng và với xã hội. Xã hội thừa nhận quyền của mỗi cá nhân và đảm bảo những quyền và lợi ích chính đáng ấy bằng pháp luật, ngược lại mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội.
Để đảm bảo xã hội như một chỉnh thể thống nhất và PTBV thì mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và với xã hội phải đạt được sự đồng thuận. Cơ sở của TNXH chính là lợi ích. Giải quyết hài hòa và thỏa đáng mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân và lợi ích giữa cá nhân với xã hội sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cá nhân hành động có trách nhiệm để đạt được lợi ích của mình và đồng thời cũng đem lại lợi ích cho người khác và cho xã hội, làm gia tăng TNXH của cá nhân đó. TNXH chính là chìa khóa của sự phát triển xã hội trong bối cảnh nền KTTT hiện nay.
Thể hiện trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội không phải là điều quá khó mà trước hết phụ thuộc vào thái độ, nhận thức của từng con người cụ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều này rất dễ, nếu mỗi người dù ở cương vị nào, làm việc trong lĩnh vực gì, chỉ cần thực hiện tốt chức trách của mình, hy sinh chút ít quyền lợi cá nhân của mình vì cái chung, vì cộng đồng, chắc hẳn chúng ta sẽ xây dựng được một xã hội tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trong xã hội hiện nay có thể phân chia thành ba khu vực chính: khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực xã hội.
Một xã hội phát triển lành mạnh khi cả ba khu vực này hoạt động hữu hiệu. Trong đó, khu vực tư nhân và khu vực xã hội là các thành phần cốt lõi của xã hội, còn khu vực nhà nước là một phần của xã hội hoạt động chủ yếu nhằm tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để cho khu vực tư nhân và khu vực xã hội hoạt động có hiệu quả. Đối với khu vực tư nhân thì nhiệm vụ chính của họ là tạo ra của cải vật chất và dịch vụ. Làm tốt nhiệm vụ của mình, hoàn thành các nghĩa vụ và trách nhiệm theo luật định cũng đã là thực hiện trách nhiệm đối với xã hội.
Về thực chất, DN được thành lập nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận nên DN phải đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Việc DN “lách luật” để gia tăng lợi ích của mình không phải là hành động đáng bị lên án mà có chăng hành động ấy phải đáng được tuyên dương vì nhờ đó những nhà làm luật mới có thể nhận biết điểm chưa hoàn thiện của luật để có thể hoàn thiện. Tuy nhiên, nhìn dưới một góc độ khác, vì hoạt động trong môi trường xã hội nên DN cần phải có trách nhiệm về những tác động phát sinh từ hoạt động của mình mà pháp luật không quy định hoặc quy định không tường minh nhưng lại có thể ảnh hưởng tới môi trường, đến khách hàng, đến cộng đồng, đến người lao động và những thành phần liên quan khác. Nếu không có một môi trường thuận lợi thì DN không thể phát triển, nếu bị xã hội tẩy chay DN không thể đứng vững.
Theo truyền thống, DN thực hiện TNXH như là một hoạt động tự nguyện, tự giác tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang tính nhân đạo, từ thiện. Nghĩa là, ngoài việc tuân thủ pháp luật lao động, pháp luật kinh doanh, các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, DN không phải chịu trách nhiệm 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp lý nào khác đối với xã hội và người tiêu dùng. Gần đây mới nổi lên một trường phái khác và đang ngày càng được ủng hộ cho rằng cần phải có sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước và xã hội, kể cả cần có các quy định pháp luật nhằm tăng cường TNXH, chứ không chỉ dựa vào sự tự giác, tự nguyện của DN. Có một quan niệm khá thịnh hành hiện nay là “DN - Công dân” (Corporate Citizen).
Quan niệm này cho rằng xét trên các phương diện hoạt động, một DN không khác gì so với một công dân: Công dân và DN đều cùng phải hoạt động kinh tế (làm ra thu nhập) để tồn tại, phát triển và đóng góp cho nền kinh tế; cả hai đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước (luật dân sự, luật thuế, luật đất đai, luật lao động,.