Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức môi giới bất động sản. Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân, tổ chức môi giới bất động sản và giải pháp hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức môi giới bất động sản 1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức môi giới bất động sản Trước khi tìm hiểu về khái niệm trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức môi giới bất động sản (MGBĐS) cần làm rõ hai khái niệm thành phần, bao gồm: “Trách nhiệm pháp lý” và “cá nhân, tổ chức MGBĐS”. * Khái niệm về trách nhiệm pháp lý Trong lĩnh vực pháp lý, từ “trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa.
Trách nhiệm được hiểu theo nghĩa tiêu cực là nghĩa vụ mà pháp luật yêu cầu các chủ thể quan hệ pháp luật phải tiến hành. Theo nghĩa tiêu cực, trách nhiệm được hiểu là những hậu quả tiêu cực do thực hiện hành vi trái quy định pháp luật mà họ phải gánh chịu. Trong khoa học pháp lý, “thuật ngữ trách nhiệm được nghiên cứu theo nghĩa thứ hai”1. Một người nào đó khi thực hiện hành vi trái pháp luật trong tình trạng sáng suốt, minh mẫn, không có sự đe doạ ép buộc, có lý trí, có tự do ý chí (tức có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi và có đủ điều kiện tự lựa chọn cho mình một trong nhiều cách xử sự khác nhau), trong khi pháp luật buộc họ phải thực hiện đúng chuẩn mực lại không lựa chọn.
Tương tự trách nhiệm pháp lý cũng sẽ được tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau gồm trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tích cực và trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tiêu cực. Tác giả cho rằng không phải ngẫu nhiên mà các chuyên gia hiểu về trách nhiệm pháp lý theo hai góc độ trên hay khiên cưỡng trình bày khái niệm này cho phù hợp với cách hiểu về trách nhiệm xã hội nói chung. Bởi thực tế qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy trong các quy định pháp luật cũng như thực tế về giải thích, áp dụng pháp luật ở nước ta cũng thường tiếp cận định nghĩa trách nhiệm pháp lý vừa mang 1 Nguyễn Triều Hoa (chủ biên), Giáo trình pháp luật đại cương, NXB. Kinh tế TP.
10 tính tích cực vừa mang tính tiêu cực. Theo Từ điển Luật học, “trách nhiệm pháp lý được tiếp cận theo nghĩa tiêu cực, là hậu quả bất lợi mà các bên trong quan hệ pháp luật phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp luật mà họ đã thực hiện (hoặc của người mà mình giám hộ hoặc bảo lãnh)”2. Theo đó, chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả pháp lý được quy định tại phần chế tài của quy phạm pháp luật. Trong các quy phạm pháp luật thường quy định chủ thể phải thực hiện song song, vừa tích cực vừa tiêu cực, cụ thể các chủ thể phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ mà quy định pháp luật đã nêu rõ, trường hợp không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc có thực hiện nhưng lại vi phạm thì phải chịu chế tài bắt buộc.
Tuy vậy, tác giả nhận thấy trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tiêu cực và trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tích cực chưa có sự thống nhất tuyệt đối, còn có nhiều ý kiến khác nhau. “Có ý kiến cho rằng cần có quan niệm đúng đắn hơn là trách nhiệm pháp lý có thể phát sinh từ sự kiện pháp lý tích cực, là trách nhiệm từ việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật đã quy định cụ thể hoặc phát sinh từ sự kiện pháp lý tiêu cực, là do hành vi vi phạm hợp đồng hoặc pháp luật buộc chủ thể vi phạm phải gánh chịu hậu quả pháp lý đương nhiên mà mình phải chịu từ phần chế tài đã quy định hay thỏa thuận”3. “Còn quan điểm cho là trách nhiệm pháp lý hiểu theo một trong hai nghĩa là nghĩa tích cực hoặc nghĩa tiêu cực là không nên, bởi vì bản thân trách nhiệm pháp lý không có sự tích cực hay tiêu cực, không tự mình sản sinh ra ngữ nghĩa đó mà trách nhiệm pháp lý phát sinh do hậu quả pháp lý phải gánh chịu bởi hành vi vi phạm pháp luật và nghĩa vụ phải thực hiện từ chính các chủ thể tham gia giao dịch”4. Tác giả đồng ý quan điểm trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tích cực và trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tiêu cực.
Bởi bản chất trách nhiệm pháp lý là những quy định do nhà làm luật đặt ra để giải quyết những vấn đề phát sinh trong xã hội, tuỳ vào mục đích áp dụng mà trách nhiệm pháp lý có thể mang tính tích cực hay tiêu cực, đối với chủ thể này thì trách nhiệm pháp lý mang tính tích cực và ngược lại. 2 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học Pháp lý, Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách khoa & NXB Tư Pháp, Hà Nội 2006, tr. 3 Phương Thúy, “Bảo đảm thực hiện trách nhiệm pháp lý của chính quyền địa phương trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề 2/2016, tr.
4 Lê Cảm, “Bàn về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 18/2007, tr. 11 Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tích cực là sự tự giác, chủ động của chủ thể trong việc chấp hành những nghĩa vụ pháp lý phù hợp với yêu cầu của quy định pháp luật cả về hình thức và nội dung. Về cơ sở pháp lý, trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tích cực có đặc điểm cơ bản là thực thi nội dung nghĩa vụ pháp lý phát sinh ở phần quy định của quy phạm pháp luật, nghĩa vụ này là sự ràng buộc, là bổn phận đòi hỏi chủ thể phải quan tâm trong thực tế. Đương nhiên khi đã là nghĩa vụ được pháp luật quy định thì chủ thể không thể từ chối.
Ở đây việc thực hiện nghĩa vụ có thể là sự đáp ứng quyền của chủ thể khác trong quan hệ pháp luật mà chủ thể đó tham gia hoặc theo yêu cầu của nhà nước nhằm vì lợi ích chung. Phương thức thực hiện trách nhiệm pháp lý của các chủ thể ở đây nhìn chung có thể là trực tiếp hoặc uỷ quyền. Họ có thể lựa chọn một phương thức thực hiện trách nhiệm pháp lý trong trường hợp này thích hợp, tiết kiệm đối với mình và có hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, có những trách nhiệm pháp lý nhà nước không cho phép cá nhân, tổ chức thực hiện việc uỷ quyền cho chủ thể khác thực hiện thay mình.
Chẳng hạn như trách nhiệm lao động công ích, trách nhiệm bảo vệ tổ quốc. Trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tiêu cực xuất hiện do có hành vi vi phạm pháp luật. Tức là khi một chủ thể nào đó vi phạm pháp luật sẽ phải gánh chịu hậu quả bất lợi từ nhà nước với mục đích nhằm sửa chữa, bồi thường hoặc khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm của mình gây nên. Trong khoa học cũng như thực trạng áp dụng pháp luật, “trách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa tiêu cực”5 tạo nên sự quan tâm lớn từ các cá nhân, tổ chức và các chuyên gia, học giả.
Lý do chủ yếu vì nếu không có sự nhận thức đúng đắn và một chế độ trách nhiệm pháp lý hữu hiệu thì việc xử lý những hành vi vi phạm pháp luật cũng như khả năng trừng trị, phòng ngừa và giáo dục xã hội không có hiệu quả thực tế. Trong một số giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật cũng nhìn nhận trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực. Theo Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Nguyễn Minh Đoan và Nguyễn Văn Năm (chủ biên), “trách nhiệm pháp lý là sự bắt buộc phải gánh chịu hậu quả bất lợi do vi phạm pháp luật”6. 5 Nguyễn Triều Hoa (chủ biên), Giáo trình pháp luật đại cương, NXB.
Kinh tế TP. 6 Nguyễn Minh Đoan và Nguyễn Văn Năm (chủ biên), Giáo trình lí luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2018, tr. 12 Theo tác giả Hoàng Thị Kim Quế, “trách nhiệm pháp lý là hậu quả pháp lý không có lợi về tinh thần hoặc vật chất được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật và được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật tương ứng”7.
Tác giả nhận thấy cách tiếp cận trách nhiệm pháp lý được hiểu theo nghĩa tiêu cực là phù hợp nên trong luận văn này, tác giả sẽ phân tích và làm rõ trách nhiệm pháp lý theo hướng này là chủ yếu. Chính vì vậy, tác giả rút ra khái niệm: “Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy định pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi được quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật”. * Khái niệm về cá nhân, tổ chức MGBĐS Thứ nhất, về MGBĐS. Đây là một trong những dịch vụ được sử dụng phổ biến hiện nay.
Theo Từ điển Luật học, “môi giới là việc làm trung gian cho các bên tiếp xúc với nhau, mục đích đàm phán và thiết lập các giao dịch nhằm hưởng thù lao, hoa hồng”. Trước đây, Luật Kinh doanh bất động sản (Luật KDBĐS) 2006 không có khái niệm về MGBĐS, qua nghiên cứu Điều 44 của Luật này, tác giả hiểu “môi giới là làm trung gian cho các bên có cơ hội gặp nhau, đàm phán để ký hợp đồng trong giao dịch bất động sản để hưởng thù lao, hoa hồng môi giới”8. Đến Luật KDBĐS 20149 và nay là Luật KDBĐS 202310 đều có quy định về khái niệm môi giới là việc làm trung gian cho các bên trong việc chuyển nhượng, cho thuê lại, mua bán, cho thuê, cho thuê mua bất động sản. Xét về mặt khoa học thì khái niệm “MGBĐS” hiểu theo Luật KDBĐS 2006 sẽ khái quát hơn, không mang tính liệt kê như Luật KDBĐS 2014, Luật KDBĐS 2023.
Tuy vậy, những quy định này đều nói lên bản chất của môi giới là làm “trung gian”.