CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG 1. Khái niệm thực hiện nghĩa vụ dân sự Thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc người có nghĩa vụ dân sự phải làm hoặc không được làm một công việc theo một thời hạn nhất định đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân sự, qua đó thỏa mãn quyền dân sự tương ứng của bên kia. Thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sẽ được thỏa mãn. Xét về nguồn gốc, nghĩa vụ có thể được phát sinh theo ý chí của các chủ thể hay phát sinh theo ý chí của Nhà nước thì người có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước người có quyền.
Việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ không thể được tiến hành một cách tùy tiện mà cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Điều 283 BLDS 2005 quy định về nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự như sau “Bên có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội” Theo nguyên tắc này, khi thực hiện nghĩa vụ dân sự, người có nghĩa vụ phải trung thực, không được lừa dối hoặc có những hành vi cản trở sự tiếp nhận nghĩa vụ đối với người có quyền. Để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người có quyền, việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ phải theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết. Về nguyên tắc, pháp luật tôn trọng cam kết, thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ nhưng trên nguyên tắc những cam kết, thỏa thuận đó không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Khái niệm trách nhiệm liên đới Theo “Từ điển tiếng Việt phổ thông”, trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả. Từ đồng nghĩa với nó là “bổn phận” có nghĩa là sự 8 ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả [48]. Trách nhiệm trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” được định nghĩa là nhiệm vụ phải gánh vác về phía mình và sự chịu kết quả về công việc của mình trước ai [25]. Để có cái nhìn tổng quan về chế định trách nhiệm liên đới, chúng ta cần tìm hiểu về hai chế định nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự.
Theo BLDS 2015 thì nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (Điều 274 BLDS 2015). Về trách nhiệm dân sự, Điều 351 BLDS 2015 quy định trách nhiệm dân sự chỉ xuất hiện khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. Như vậy, mối quan hệ giữa các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự được thể hiện qua sơ đồ sau: Xác lập Vi phạm Các căn cứ Điều Nghĩa vụ Trách nhiệm dân sự 275 BLDS 2015. Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rằng việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng nghĩa vụ liên đới của bên có nghĩa vụ sẽ dẫn đến hậu quả là phải gánh chịu trách nhiệm dân sự liên đới.
Theo khoản 1 Điều 288 BLDS 2015 thì nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. BLDS 2015 không có điều khoản quy định trực tiếp về trách nhiệm dân sự liên đới, tuy nhiên từ việc tìm hiểu về trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ ở trên có thể khái quát về khái niệm là trách nhiệm dân sự liên đới. Đó là loại trách nhiệm của nhiều người có nghĩa vụ liên đới phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ liên đới. Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng 1.
Khái niệm Luật HNGĐ 2000 chỉ có duy nhất một điều luật (Điều 25) quy định về chế định TNLĐ của vợ chồng mà không hề nhắc đến nghĩa vụ liên đới của vợ chồng, mặc dù về mặt lý luận, nghĩa vụ là tiền đề của trách nhiệm. Tuy nhiên từ khái niệm nghĩa vụ liên đới của BLDS 2015, có thể rút ra khái niệm nghĩa vụ liên đới của vợ chồng như sau: Nghĩa vụ liên đới của vợ chồng là nghĩa vụ mà trong đó vợ hoặc chồng có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình [24, tr. Từ khái niệm nghĩa vụ liên đới của BLDS 2005 và Điều 25 Luật HNGĐ 2000 khái niệm trách nhiệm liên đới của vợ chồng có thể được khái quát: Trách nhiệm liên đới của vợ chồng là quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm trong giao dịch dân sự mà họ tham gia [24, tr. Hiểu như vậy thì dường như Luật HNGĐ 2000 đã đồng nhất hai khái niệm nghĩa vụ liên đới và trách nhiệm liên đới của vợ chồng.
Luật HNGĐ 2000 đã được thay thế bằng Luật HNGĐ 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015. Luật HNGĐ 2014 đã tạo ra nhiều sự thay đổi với chế định trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Điều đầu tiên, nghĩa vụ liên đới của vợ chồng không còn bị đồng nhất với trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi Luật HNGĐ 2014 đã bổ sung Điều 37 quy định cụ thể về nghĩa vụ chung của vợ chồng. Xuất phát từ cơ sở lý luận về mối quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ chung này chính là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng.
Điều 27 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng cũng có những sửa đổi mang tính chất đột phá, tác giả có thể khái quát khái niệm trách nhiệm liên đới của vợ chồng như sau: Trách nhiệm liên đới của vợ chồng là quy định của pháp luật về việc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịuhậu quả pháp lý phát sinh từ các quy định về đại diện giữa vợ chồng và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Ngoài ra, Điều 27 của Luật HNGĐ 2014 đã khắc phục 10 được nhược điểm của Luật cũ đó là phạm vi quá hẹp, các nhà làm luật chưa dự liệu đủ các tình huống xảy ra trong thực tế đời sống khi quy định trách nhiệm liên đới của vợ chồng chỉ phát sinh từ giao dịch dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Như vậy, có thể kết luận rằng tính khái quát, tổng hợp của Luật HNGĐ 2014 cao hơn so với Luật HNGĐ 2000. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ vị trí của Điều 27 trong Luật HNGĐ 2014 (nằm trong chương III Quan hệ giữa vợ và chồng, Mục 2 Đại diện giữa vợ và chồng), tác giả nhận thấy hai điều: Thứ nhất, vị trí này hoàn toàn không hợp lý.
Trong khi đó Điều 25 Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện trong Luật HNGĐ 2000 nằm trong Chương III Quan hệ giữa vợ và chồng. Nghĩa là không thuộc một mục nhỏ mà hiện diện tại một chương lớn. Việc sắp xếp này xét ra còn hợp lý hơn so với Luật HNGĐ 2014. Lý do là bởi Luật HNGĐ 2000 chưa có điều luật quy định về nghĩa vụ chung của vợ chồng mà nghĩa vụ này nằm tản mác trong các Điều 27, Điều 28.
Đến Luật HNGĐ 2014 chúng ta đã có Điều 37 quy định về nghĩa vụ chung của vợ chồng. Lẽ ra quy định về trách nhiệm liên đới phải nằm sau Điều 37 thì mới hợp lý. Thứ hai, Khoản 1 Điều 27 Luật HNGĐ 2014 có hai nội dung, vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với hai loại giao dịch: Giao dịch do một bên thực hiện quy định tại Khoản 1 Điều 30 (giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình); Giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25, 26. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình do một bên thực hiện đã được quy định tại Khoản 1 Điều 37.
Còn loại giao dịch thứ hai lại không nằm trong các loại nghĩa vụ chung của vợ chồng. Như tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa 3 khái niệm giao dịch dân sự, nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự tại mục 1., thông qua giao dịch dân sự đã làm phát sinh nghĩa vụ. Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ sẽ làm phát sinh trách nhiệm dân sự. Từ nghĩa vụ liên đới của vợ chồng sẽ làm phát 11 sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng.
Nghĩa vụ liên đới của vợ chồng (nghĩa vụ chung) đã được quy định tại Điều 37, nhưng trong Điều 37 lại không có trách nhiệm dân sự phát sinh từ giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25, 26. Lẽ ra, nghĩa vụ của vợ chồng phát sinh từ loại giao dịch này cũng phải là một trong các loại nghĩa vụ được liệt kê tại Điều 37. Và khi đó Điều luật về trách nhiệm liên đới của vợ chồng chỉ cần quy định một cách ngắn gọn như tại Khoản 2 Điều 37 như hiện nay. Điều 37 quy định cụ thể về nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Xuất phát từ cơ sở lý luận về mối quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ chung này chính là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng.