CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE KỈ LUẬT LAO DONG VÀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về trách nhiệm kỷ luật lao động 1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm kỷ luật lao động 1. Khái niệm trách nhiệm kỷ luật lao động Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, kỉ luật được hiểu là trật tự nhất định trong hành vi cau con người theo những chuan mực do luật pháp, đạo đức quy định trong từng thời kì lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay của giai cấp, tập đoàn xã hội riêng rẽ hay của một cộng đồng.
Ki luật là phương tiện dé thống nhất hoạt động trong cộng đồng [19, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt, ki luật là tổng thé những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, dé đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức [20, tr. Có thể nhìn nhận kỉ luật ở góc độ chung nhất, kỉ luật là những quy định, quy tắc, trật tự mà con người phải tuân thủ khi tham gia vào hoạt động trong một tổ chức, một tập đoàn hay trong một cộng đồng. Nhưng quy định, quy tắc được chuẩn hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc có thể là những quy ắc mang tính chất đạo đức hoặc thậm chí có thé chỉ là những quy định mang tính chất nội bộ của một t6 chức.
Ki luật chính là phương tiện dé thống nhất hoạt động chung của con người với nhau nhằm đạt mục đích nhất định. Hay có thể hiểu, kỉ luật là nhu cầu tất yếu của các hoạt động chung, các hoạt động mang tính chất tập thé. Khi có các hoạt động chung, hoạt động mang tính chát tập thé thì tat yếu phải có kỉ luật [18, tr. Trong lĩnh vực lao động, hoạt động lao động là những hoạt động mà ở đó cơ sự tham gia của nhiều người, do đó trong hoạt động này cần có kỉ luật.
Bởi trong hoạt động lao động, con người cân phải có sự liên kêt với nhau, 9 như thé mới tạo năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động lao động mới được nâng cao. Các Mác nhận định: “Nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch và trong sự tác động qua lại lẫn nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau thì lao động của họ mang tính hiệp tác” |4, tr. Theo Từ điển Bách khoa thi ki luật lao động được hiểu là chế độ làm việc đã được quy định và sự chấp hành nghiêm túc, đúng dan của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động. Tạo ra sự hài hoà trong hoạt động của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất [19, tr.] Như vậy, dưới góc độ chung nhất, có thê hiểu kỉ luật lao động được hiểu là trật tự nền nếp mà NLD phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động.
Ngoài ra, có thé hiểu, kỷ luật lao động là công cụ dé doanh nghiệp hay NSDLD quản lý NLD thực hiện các hành vi đúng với chuẩn mực dao đức xã hội và tuân thủ theo một trật tự, nề nếp nhất định dé đạt được hiệu quả trong sản xuất kinh doan. Vì vậy, pháp luật cũng cần quy định về ki luật lao động dé bảo vệ quyền của NLD và NSDLD trong quan hệ lao động. Có quan điểm khác cho rang, “Ki luật lao động là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của người lao động dựa trên ý chí của người sử dụng lao động và pháp luật hiện hành, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ, nếu có vi phạm xảy ra người lao động phải chịu trách nhiệm trước người sử dụng lao động về hành vi vi phạm của mình” [7, tr. Với tư cách là chế định của luật lao động thì “Ki luật lao động được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của NLD đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng như các biện pháp xử lý đối với những người không chấp hành hoặc không chấp hành day đủ trách nhiệm, nghĩa vụ đó” [18, tr.
10 Dưới góc độ pháp lí, kỉ luật lao động là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa người lao động với người su dụng lao động trong việc quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với cơ quan, đơn vị, tô chức cũng như các biện pháp xử lý đối với những người không chấp hành hoặc không chấp hành đây đủ trách nhiệm, nghĩa vụ do. Trong quan hệ lao động thì NSDLĐ nắm giữ tư liệu sản xuất và các quyên lợi chính đáng của họ được pháp luật lao động bảo vệ. NSDLĐ có quyền “tuyển dụng, bố trí, quản lý, điều hành, giám sát lao động; khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động” [14, Điều 6]. Như vậy, có thé thấy, quyền xử lý KLLĐ của NSDLĐ được pháp luật bảo vệ, đây là một quyên có liên quan trực tiếp đến quyền điều hành lao động và một trong các cách thức quản lý NLĐ hiệu quả nhất mà NSDLĐ sử dụng đó chính là thiết lập chế độ trách nhiệm KLLĐ.
Thông qua việc ban hành và duy trì trách nhiệm KLLĐ, NSDLĐ sẽ đặt ra các quy tắc lao động, quy chế làm việc để buộc NLD phải tuân theo. Từ đó, NLD tạo nền nếp lao động tốt, đồng thời bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động, vừa duy trì quan hệ lao động ôn định, hài hòa, giúp cho các DN phát triển bền vững. Không có KLLD thì NSDLD rat khó quản lý quan hệ lao động với NLD. Bởi KLLD đưa ra những tiêu chuẩn quy định cụ thể về mức độ hành vi của NLD trong quá trình lao động va ứng xử tại DN.
Ki luật lao động được xây dựng dựa trên cơ sở pháp luật lao động hiện hành và những chuẩn mực trong lao động gắn với văn hóa, tôn chỉ của DN. Khi tham gia vào quan hệ lao động, NLD phải tuân thủ kỉ luật lao động mà cụ thé là phải chấp hành đúng các quy định trong nội quy lao động. Trường hợp, NLD không tuân thủ kỉ luật lao động, không chấp hành nội quy lao động thì sẽ bị NSDLĐ áp dụng các hình thức xử lý kỉ luật phù hợp. Việc xử lý này có thé hiểu là việc NSDLĐ buộc NLD phải thực hiện các biện pháp 11 xử lý mang tính chế tài thông qua việc áp dụng các biện pháp xử lý kỉ luật lao động.
Trách nhiệm KLLĐ được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý, nhưng có sự đặc thù bởi yếu tô chủ thé áp dụng là NSDLĐ và chủ thể bị áp dụng là NLD. Có nghiên cứu chi ra rằng “Trach nhiệm kỷ luật lao động là một loại trách nhiệm pháp ly do người sử dụng lao động áp dụng đối với NLD có hành vi vi phạm kỷ luật lao động băng cách bắt họ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật lao động” [18, tr. Cũng có quan điểm cho rằng: “Trach nhiệm kỷ luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý do người sử dụng lao động áp dụng đối với những người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động bằng cách bắt họ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật lao động” [10, tr. Từ cách hiểu về KLLĐ và cách tiếp cận về trách nhiệm KLLD, có thé hiểu: Trách nhiệm kỉ luật lao động là hình thức trách nhiệm do người sử dung lao động áp dụng đối với người lao động khi có hành vi vi phạm kỉ luật lao động theo quy định của pháp luật và nội quy lao động do người sử dụng lao động ban hành, người lao động phải chịu các hình thức xử lý kỉ luật lao động tương ứng với các hành vi vi phạm.
Đặc điểm của trách nhiệm kỷ luật lao động Từ những phân tích trên, trách nhiệm KLLD có những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, chủ thể có quyên áp dụng trách nhiệm ki luật lao động là người sử dụng lao động Người sử dung lao động có quyền xử lý KLLD, bởi đây là một nội dung thuộc quyền quản lý lao động của NSDLĐ. NSDLD có thể là DN, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân sử dung lao động. NSDLD có thé trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo pháp luật, theo ủy quyền của minh dé áp dụng trách nhiệm KLLĐ đối với NLD vi phạm kỷ luật. Việc thực hiện trách nhiệm này thể hiện vai trò của NSDLĐ trong việc đảm bảo trật tự 12 và nền nếp trong quá trình lao động, góp phần hỗ trợ NSDLĐ đạt được các mục tiêu kinh tế của mình.
Ké cả trong trường hợp NSDLD là tô chức không có tư cách pháp nhân thì vẫn tồn tại quan hệ lao động và người đại diện của tô chức đó có trách nhiệm kỷ luật lao động. Ví dụ cụ thể cho trường hợp này là tại doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân là người sử dụng lao động và có trách nhiệm kỷ luật lao động. Thứ hai, chủ thể bị áp dụng trách nhiệm kỉ luật lao động là người lao động Trong quá trình lao động, KLLĐ chính là cách sắp đặt NLD tham gia vào quá trình lao động một cách có nền nếp, có tô chức, tránh các hành vi tự phát ảnh hưởng đến công việc chung. NLĐ phải tuân thủ các quy định trong nội quy lao động, nhăm tạo nên sự thống nhất trong toàn bộ quá trình lao động, nâng cao năng suất lao động, tao ra sự phát triển đồng bộ cho cả doanh nghiệp.
Vì mục tiêu trên, NLD cần phải chịu trách nhiệm khi vi phạm KLLĐ và là chủ thê bị áp dụng trách nhiệm KLLD. Trách nhiệm KLLD chỉ đặt ra đối với NLD trong khuôn khổ quan hệ lao động. Các vi phạm (nếu có) của NLD ngoài khuôn khổ lao động sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hình sự. Thứ ba, cơ sở áp dụng trách nhiệm kỉ luật lao động là chủ thể có hành vi vi phạm kỉ luật lao động được quy định trong nội quy lao động Quyền xử lý KLLĐ của NSDLĐ phải được quy định rõ và thé hiện trong bản nội quy lao động.
Pháp luật lao động quy định rõ, việc xử lý KLLD phải trên cơ sở nội quy lao động — đây là văn bản cần có sự góp ý của tổ đại diện NLD và phải đăng ký với cơ quan chuyên môn về lao động cấp tỉnh nơi NSDLD đăng ký kinh doanh dé theo dõi [14, Điều 119.