XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ PHÁP NHÂN TS. Mai Thanh Hiếu* Pháp nhân là thực thể pháp lý có nguồn gốc từ luật La Mã. Cho đến giữa thế kỷ XIX, pháp nhân không thể phạm tội (tiếng La Tinh: societas delinquere non potest) vẫn là nguyên tắc có tính phổ biến. Trong hệ thống common law, Anh là nước đầu tiên thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân.
Từ đó đến nay, nhiều nước và vùng lãnh thổ thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau đã công nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân, bên cạnh những nước không công nhận như Italia (trách nhiệm hình sự cá nhân là nguyên tắc hiến định của Italia (Điều 27 Hiến pháp năm 1947)). Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong pháp luật hình sự đòi hỏi sự thay đổi tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự. Sự thay đổi đó đã và đang diễn ra tại nhiều nước như Anh, Hoa Kỳ, Niu Dilân, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Pháp.1 _____________ * Trường Đại học Luật Hà Nội. Mireille Delmas-Marty, GAO Mingxuan (Direction): Criminalité économique et atteintes à la dignité de la personne, Éditions de la maison des sciences de l’homme, Paris, 1997, p.
205 và Việt Nam. Trong thực tiễn tư pháp, có những nước như Pháp, một số thẩm phán tuy không đặt lại vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhưng rất “sợ” những khó khăn về tố tụng khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân bởi theo họ, pháp luật tố tụng được xây dựng một cách “vội vã”1, chỉ quy định “chung” và là “luật mềm - soft law” nên phải trông đợi vào sự giải thích của án lệ2. Liệu Việt Nam cũng sẽ trong tình trạng tương tự? Bài viết này sẽ phân tích những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là pháp nhân và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là pháp nhân Thẩm quyền xét xử sơ thẩm được xác định theo sự việc (tiếng La tinh: ratione materiae), đối tượng (tiếng La tinh: ratione personae) và lãnh thổ (tiếng La tinh: ratione loci).
Jacques-Henri Robert: La représentation devant les juridictions pénales des personnes morales ou le syndrom de Pyrrhon, in Apprendre à douter: questions de droit, questions sur le droit - Études offertes à Claude Lombois, Pulim, p. Mikaël Benillouche: La poursuite des personnes morales, in Morgane Daury-Fauveau et Mikaël (Direction), Dépénalisation de la vie des affaires et responsabilité pénale des personnes morales, Collection Ceprisca, Puf, p. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc phụ thuộc vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Tòa án chỉ được xét xử đối với pháp nhân về 33 tội phạm quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Sự giới hạn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân dẫn đến hạn chế thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc đối với pháp nhân. Trong các tội phạm nói trên, tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017), do tính chất phức tạp, bắt buộc phải xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu (điểm c khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Các tội phạm khác, tùy theo từng trường hợp, có thể được xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực theo quy định chung. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng phụ thuộc vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về chủ thể của tội phạm.
Pháp luật hình sự Việt Nam quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Vì vậy, Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là pháp nhân thương mại. Loại hình pháp nhân thương mại ảnh 207 hưởng đến phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự. Bị cáo là pháp nhân thương mại không do Quân đội nhân dân quản lý thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân.
Bị cáo là pháp nhân thương mại không do Quân đội nhân dân quản lý chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự trong trường hợp liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ hoặc trong địa bàn thiết quân luật (điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Đối với bị cáo là pháp nhân thương mại do Quân đội nhân dân quản lý thì thẩm quyền xét xử cần phải thuộc về Tòa án quân sự. Tuy nhiên, điểm a khoản 1 Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự đối với bị cáo là cá nhân. Vì vậy, điều khoản này cần được nghiên cứu sửa đổi theo hướng: “Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử: a) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập 208 trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân; pháp nhân thương mại do Quân đội nhân dân quản lý”.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ được phân định theo nơi pháp nhân thực hiện tội phạm hoặc nơi pháp nhân có trụ sở chính hoặc có chi nhánh. a) Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với pháp nhân là “Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm” (khoản 1 Điều 444 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Quy định này phù hợp với quy định về thẩm quyền điều tra đối với cá nhân: “Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình” (khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Thẩm quyền tố tụng theo nơi thực hiện tội phạm là quy định có tính nguyên tắc, bảo đảm thuận lợi cho giải quyết vụ án, góp phần tích cực vào công cuộc phòng ngừa và chống tội phạm tại địa phương.
b) Tòa án nơi pháp nhân có trụ sở chính hoặc có chi nhánh Trường hợp tội phạm thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là “Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm” (khoản 1 Điều 444 209 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Tội phạm thực hiện tại nhiều nơi khác nhau có thể là trường hợp phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội hoặc phạm một tội bởi nhiều hành vi thực hiện tại nhiều lãnh thổ tư pháp khác nhau. Thẩm quyền xét xử theo nơi pháp nhân có trụ sở chính hoặc có chi nhánh là quy định có tính ngoại lệ, bảo đảm thuận lợi cho giải quyết vụ án. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ đối với pháp nhân là cơ sở xác định thẩm quyền truy tố theo lãnh thổ đối với pháp nhân (khoản 1 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).
Cụ thể, Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố đối với pháp nhân là Viện kiểm sát nơi pháp nhân thực hiện tội phạm; trường hợp tội phạm thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố là Viện kiểm sát nơi pháp nhân có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân thực hiện tội phạm. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ đối với pháp nhân còn là cơ sở xác định thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ đối với pháp nhân. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định vấn đề này. Khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ thuộc về Cơ quan điều tra “mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình”.
Đây là quy định chung, có tính nguyên tắc, có thể áp dụng cho việc điều tra đối với cá nhân cũng như pháp nhân. Trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm hoặc tội phạm được thực hiện tại 210 nhiều nơi khác nhau thì thẩm quyền điều tra thuộc về “Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt” (khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Đây là quy định riêng, chỉ áp dụng cho việc điều tra đối với cá nhân, vì không thể nói đến việc bắt pháp nhân hoặc nơi cư trú của pháp nhân (trừ trường hợp thẩm quyền điều tra theo nơi phát hiện tội phạm có thể áp dụng cho việc điều tra đối với cá nhân cũng như pháp nhân). Nói cách khác, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ đối với cá nhân, mà không quy định thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ đối với pháp nhân trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm hoặc tội phạm thực hiện tại nhiều nơi khác nhau.
Để phù hợp với quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ đối với pháp nhân, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần bổ sung quy định: trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm hoặc tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi pháp nhân có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân thực hiện tội phạm.