Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 1. Khái quát chung về quyền tác giả * Khái niệm quyền tác giả: Theo nghĩa rộng, quyền tác giả là một chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật, xác định và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quy định việc bảo vệ, khôi phục các quyền đó khi có hành vi xâm phạm. Còn theo nghĩa hẹp, quyền tác giả bao gồm tổng thể các quyền của tác giả đối với tác phẩm mà mình sáng tạo ra; quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm [37, tr.
* Đặc điểm quyền tác giả: Giống như các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ khác (quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng), quyền tác giả cũng có tính vô hình và chỉ được bảo hộ trong một thời hạn nhất định. Ngoài ra, quyền tác giả còn có các đặc điểm riêng như sau [37, tr.35]: + Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật: Tác phẩm phải là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Tuy nhiên, những nội dung thể hiện trong tác phẩm đi ngược lại lợi ích dân tộc, bôi nhọ vĩ nhân, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội thì không được bảo hộ. + Thứ hai, quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm: Pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam chỉ bảo hộ hình thức chứa 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đựng tác phẩm khi nó được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm.
Vì vậy, trên thực tế có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có cùng nội dung, nhưng có sự sáng tạo trong hình thức thể hiện đều được pháp luật công nhận và bảo vệ. + Thứ ba, quyền tác giả được bảo hộ tự động: Đặc điểm này của quyền tác giả khác hoàn toàn so với quyền sở hữu công nghiệp. Nếu như quyền tác giả được bảo hộ tự động kể từ thời điểm tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì quyền sở hữu công nghiệp được xác lập dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua việc xét và cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp. Pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam không quy định bắt buộc nghĩa vụ đăng ký và nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, hay nói cách khác, việc đăng ký quyền tác giả không phải là căn cứ làm phát sinh quyền tác giả mà chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh cho chủ thể quyền khi phát sinh tranh chấp.
+ Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối: Đối với các tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm sao chụp thì trong một số trường hợp, cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và một số trường hợp không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. * Nội dung quyền tác giả: Cũng giống như các quyền dân sự khác, khái niệm nội dung quyền tác giả có nội hàm hẹp hơn so với khái niệm quyền tác giả. Nội dung quyền tác giả chỉ nhằm xác định các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm là các quyền mang yếu tố tinh thần của chủ thể đối với tác phẩm, thông thường, về bản chất, các quyền nhân thân luôn gắn liền với chủ thể nhất định và không thể chuyển dịch được (trừ quyền công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm).
Quyền tài sản của chủ thể quyền đối với tác phẩm là các lợi ích vật 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất có được từ tác phẩm mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền được hưởng, như: được hưởng nhuận bút, thù lao hoặc hưởng các lợi ích vật chất khác khi tác phẩm được sử dụng (làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm, sao chép tác phẩm…). Các quyền nhân thân và quyền tài sản này được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền tác giả Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không có khái niệm chung để chỉ các hành vi xâm phạm quyền tác giả mà các hành vi này được liệt kê tại Điều 28 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả được Nhà nước và pháp luật bảo hộ; vì vậy, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có hành vi vi phạm bất cứ một quyền nào thuộc quyền của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả khi không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đều phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định (xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại, thậm chí là bị xử lý hình sự).
Như vậy, cũng giống như các hành vi xâm phạm quyền khác, các hành vi xâm phạm quyền tác giả được hiểu là những hành vi cố ý hoặc vô ý của các cá nhân, tổ chức vi phạm bất kỳ một quyền nào thuộc quyền tác giả đang được pháp luật bảo hộ và phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi. Đặc điểm hành vi xâm phạm quyền tác giả Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và hành vi xâm phạm quyền tác giả nói riêng là một loại của hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi xâm phạm quyền tác giả mang các đặc điểm chung của hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời mang những đặc điểm riêng có. Chủ thể có hành vi xâm phạm quyền tác giả phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm của mình, trừ trường hợp chủ thể này không có năng lực trách nhiệm pháp lý (người bị mất năng lực hành vi dân 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đây là đặc điểm của tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung; cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm quyền tác giả phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, thậm chí là trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm của mình. Hành vi xâm phạm quyền tác giả phải là xử sự thực tế (cố ý hoặc vô ý) của các cá nhân, tổ chức xâm phạm các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả. Các hành vi này là xử sự thực tế, cụ thể của các cá nhân, tổ chức nhất định. Một đặc điểm nữa của hành vi xâm phạm quyền tác giả là một hành vi xâm phạm quyền tác giả không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây tổn hại cho lợi ích của toàn xã hội.
Hành vi xâm phạm quyền tác giả tác động tiêu cực tới các quyền của tác giả, làm suy giảm một phần hoặc hoàn toàn cơ hội của tác giả để khai thác tác phẩm nhằm mục đích kinh tế. Hơn nữa, các hành vi xâm phạm quyền tác giả xảy ra không nằm trong sự kiểm soát của tác giả, dẫn đến triệt tiêu mục đích khuyến khích sáng tạo mà pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đặt ra. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ 1. Khái niệm trách nhiệm dân sự * Khái niệm TNDS BLDS 2005 không có một điều khoản cụ thể nào quy định về khái niệm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TNDS mà chỉ quy định các loại TNDS được áp dụng trong những trường hợp cụ thể tại các Điều 303, Điều 304, Điều 305, Điều 306 và Điều 307.
Hiện nay, một số học giả đưa ra khái niệm về TNDS như sau: Trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của BLDS”, TNDS được hiểu theo nghĩa rộng “ là các biện pháp có tính cưỡng chế được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm”; còn theo nghĩa hẹp, TNDS được hiểu: Là các biện pháp có tính cưỡng chế áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình (trong đó có bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng) [8, tr. Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “TNDS là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại” [36, tr. Nhìn chung, các khái niệm về TNDS mà các học giả đã xây dựng đều phản ánh được những đặc điểm cơ bản của TNDS như: Là một loại trách nhiệm pháp lý, được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự; nhằm mục đích bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trong các khái niệm này các học giả chưa làm rõ được đặc điểm quan trọng về mặt chủ thể của TNDS.
Do vậy, theo quan điểm của tác giả luận văn, khái niệm về TNDS có thể được hiểu như sau: TNDS là trách nhiệm pháp lý do Tòa án hoặc chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm nghĩa vụ dân sự, buộc các chủ thể này phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Đặc điểm của TNDS TNDS cũng là một loại trách nhiệm pháp lý cho nên TNDS cũng mang các đặc điểm nói chung của trách nhiệm pháp lý; đồng thời TNDS cũng có các đặc điểm riêng có. Một số đặc điểm cơ bản của TNDS như [17]. Thứ nhất, TNDS là một biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các chủ thể khác áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật dân sự.