Chương 1: Trách nhiệm của cơ quan công an trong bảo quản phương tiện cơ giới bị tạm giữ do vi phạm giao thông Chương 2: Thực trạng xử lý phương tiện cơ giới vi phạm giao thông tại phòng cảnh sát giao thông tỉnh Đắk Lắk 5 CHƢƠNG 1: TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN CÔNG AN TRONG BẢO QUẢN PHƢƠNG TIỆN CƠ GIỚI BỊ TẠM GIỮ DO VI PHẠM GIAO THÔNG 1. Khái quát trách nhiệm bảo quản phƣơng tiện cơ giới do vi phạm giao thông Nhìn chung công tác bảo quản và xử lý phương tiện cơ giới bị vi phạm giao thông hiện nay lực lượng Công an đang thực hiện rất tích cực và từng bước khắc phục những hạn chế hiện đang vướng mắc giữ thực tế với quy định của pháp luật. Trong công tác bảo quản phương tiện chờ xử lý gặp rất nhiều khó khăn bất cập như: Điều 12 Thông tư 11 của Bộ Công an quy định, khi quá thời hạn hẹn đến g1iải quyết và đã bị tạm giữ giấy phép lái xe mà người vi phạm chưa đến trụ sở để giải quyết việc vi phạm, vẫn tiếp tục lái xe thì sẽ bị xử phạt như hành vi không có giấy tờ. Trường hợp nếu tài xế tiếp tục vi phạm hành vi mới thì sẽ bị lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi không có giấy tờ và hành vi vi phạm mới.
Người vi phạm sẽ bị tạm giữ một trong các loại giấy tờ còn lại hoặc tạm giữ phương tiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng đã quy định cụ thể trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nước. Nếu quá thời hạn nêu trên thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp. Quy định là vậy, nhưng thực tế cho thấy công tác quản lý và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự giao thông hiện nay còn khá khó khăn. Tại Đắk Lắk, các ngành chức năng liên quan mặc dù đã và đang có sự phối hợp khá tốt trong việc gửi thông báo những trường hợp vi phạm Luật Giao thông đường bộ bị thu giữ hoặc tước giấy phép lái xe để không cấp lại; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận 6 thức cho người dân về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ gắn với công tác cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện để người dân đến nộp phạt song tình trạng tồn đọng giấy phép lái xe và phương tiện giao thông ở các đơn vị cảnh sát giao thông trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp diễn.
Từ đầu năm đến nay, lực lượng cảnh sát giao thông đã tổ chức gần 50.000 ca tuần tra, kiểm soát, phát hiện, lập biên bản vi phạm là 46.971 trường hợp và ra quyết định xử phạt hơn 43.000 trường hợp vi phạm nồng độ cồn, không đội mũ bảo hiểm, chở quá trọng tải, đi sai làn đường; tạm giữ hơn 9.000 phương tiện, hơn 4.000 bộ giấy tờ xe. Thế nhưng hiện đang có hàng trăm phương tiện, giấy phép lái xe đã quá thời hạn tạm giữ mà người vi phạm vẫn không đến nộp phạt, buộc lực lượng chức năng phải làm các thủ tục thanh lý. Trách nhiệm của cơ quan Công an trong thời gian bảo quản và xử lý phương tiện cơ giới bị vi phạm giao thông là trách nhiệm dân sự, hành chính và có thể trách nhiệm hình sự. Giả thiết trường hợp người được giao trách nhiệm bảo quản phương tiện làm thay đổi hiện trạng, tổn thất giá trị tài sản của phương tiện đây là trách nhiệm dân sự người bảo quản phương tiện phải bồi thường giá trị bị tổn thất cho chủ phương tiện.
Trường hợp nếu trong thời gian tạm giữ phương tiện đó thay đổi hiện trạng, tổn thất giá trị tài sản của phương tiện mà do cơ sở hạ tầng của cơ quan không đảm bảo thì trách nhiệm này là trách nhiệm hành chính. Trường hợp nếu phương tiện vi phạm bị tạm giữ do vụ tai nạn làm ảnh hưởng đến tính mạng con người thì phương tiện đó thuộc loại tang vật của vụ việc thài đây là trách nhiệm hình sự. Qua tìm hiểu tác giả được biết, do đa phần các phương tiện đều cũ nát, số khung, số máy bị tẩy xóa; phương tiện chuyển nhượng qua nhiều người, chủ sở hữu ở các địa phương khác; người vi phạm khai không đúng tên tuổi, địa chỉ, không ký biên bản… khiến việc gửi thông báo tới chủ phương tiện bằng thư bảo đảm khó thực hiện. Trong khi đó, một số hành vi vi phạm có mức xử phạt cao, phương tiện 7 cũ có giá trị thấp hơn nên người vi phạm cố tình không đến nộp phạt.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc các phương tiện vi phạm sau một thời gian dài nằm tại bãi tạm giữ sẽ bị hư hỏng nặng, giảm giá trị xe, không chỉ gây lãng phí tài sản, thất thoát nguồn thu ngân sách địa phương mà còn khiến đơn vị công an gặp nhiều khó khăn khi bố trí bến bãi. Phương tiện vi phạm đã vậy, tình trạng “bỏ quên” giấy phép lái xe tại cơ quan công an cũng đang khá phổ biến. Một trong những nguyên nhân khiến người vi phạm không đến nhận lại bằng lái là số tiền xử phạt cao hơn so với chi phí cấp lại, thi mới giấy phép lái xe. Vì vậy, thay vì đến nộp phạt, chủ phương tiện lựa chọn các phương án khác như thi hoặc xin cấp lại giấy phép lái xe mới.
Thực trạng kể trên đã phần nào cho thấy các hình thức xử phạt phương tiện, giấy phép lái xe do vi phạm vẫn chưa đủ sức răn đe và còn nhiều kẽ hở để người vi phạm từ chối hành vi nhận lại tài sản của mình. Thiết nghĩ, để việc xử lý các phương tiện giao thông quá hạn, “vô thừa nhận” được thuận lợi, đã đến lúc các ngành chức năng phải có những điều chỉnh nhằm tăng tính ràng buộc đối với chủ sở hữu, đồng thời, rà soát lại thủ tục làm mới, cấp lại giấy phép lái xe để đảm bảo việc thực thi pháp luật được nghiêm minh, đúng quy định. Về cơ bản, tại địa phương được kiểm tra đều chấp hành đúng pháp luật trong việc tạm giữ, tịch thu và xử lý các phương tiện giao thông vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu. Mặc dù vậy, kết quả thực hiện công tác này cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện và chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Vẫn còn tình trạng phương tiện bị tồn đọng lâu ngày, mục nát, phơi sương, phơi nắng, lãng phí tài sản xã hội mà chưa được xử lý. Thời gian từ lúc người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định tịch thu đến lúc xử lý xong phương tiện bị tịch thu kéo dài quá lâu (các quy định về trình tự, thủ tục xử lý tài sản bị tịch thu còn nhiều bất cập, dẫn đến thời gian xử lý bị kéo dài). Đáng chú ý, còn tình trạng bỏ lại phương tiện sau khi vi phạm và bị tạm giữ, số phương tiện đang được quản lý tại các điểm trông giữ phương tiện vi phạm trong cả nước là hơn 9.000 phương tiện, trong đó có hơn 3.000 phương tiện đã quá thời hạn tạm giữ. 8 Ngày 03/10/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, trong đó đáng chú ý là quy định nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu phải bảo đảm an toàn về phòng, chống cháy, nổ; đáp ứng các điều kiện về bảo vệ môi trường và các điều kiện cụ thể khác do Bộ Công an quy định.
Đồng thời, Nghị định cũng nâng cao trách nhiệm của người trực tiếp ra quyết định tạm giữ, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Theo đó, người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu. Trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế, người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Riêng người trực tiếp quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định tạm giữ, tịch thu về việc quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện.
Kinh phí bảo đảm cho công tác quản lý, bảo quản nêu trên bao gồm các khoản chi cho xây dựng, sửa chữa, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất hoặc thuê nơi tạm giữ; mua sắm trang thiết bị, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc quản lý, bảo quản, vận chuyển, giao, nhận, giám định; chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; phục vụ xử lý tang vật, phương tiện không còn giá trị sử dụng và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Điều 7 Thông tư 47/2014/TT-BCA, Điều 14 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định: Phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có đủ một trong các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP thì người có thẩm quyền tạm giữ có thể giao cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản phương tiện dưới sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ (trừ các trường hợp theo quy định tại Khoản 5 Điều 15 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP). Tổ chức, cá nhân vi phạm phải làm đơn gửi cơ quan có thẩm quyền tạm giữ đề nghị được giữ, bảo quản phương tiện; trong đơn ghi rõ họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm, 9 hành vi vi phạm hành chính, tên, số lượng, đặc điểm, chủng loại, số hiệu, nhãn hiệu, ký hiệu, xuất xứ, năm sản xuất, số máy, số khung, dung tích (nếu có), tình trạng của phương tiện, nơi giữ, bảo quản phương tiện. Cá nhân vi phạm khi gửi đơn, phải gửi kèm theo bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú hoặc giấy xác nhận của người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi cá nhân vi phạm đang công tác; đối với tổ chức vi phạm phải gửi kèm theo giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức đóng trụ sở hoạt động.