Mở đầu bằng việc phân tích tính hợp lý và sự cần thiết phải xác lập TNBTCNN, tác giả đã tổng hợp các án lệ và các tranh luận của các học giả để đưa đến kết luận là “các hoạt động thực hiện vì lợi ích công cộng không được phép gây ra thiệt hại mà không có bồi thường cho các cá nhân… Nạn nhân trong các vụ tai nạn phải ở vị trí pháp lý giống nhau dù cho chiếc xe tải đâm họ hay nhà máy nơi họ bị tai nạn được sở hữu bởi một cá nhân, một công ty hoặc của nhà nước” [16, tr. 11] và theo đó Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường tương tự như cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đồng thời, ông cũng thừa nhận rằng, quan niệm về trách nhiệm bồi thường được liên kết với lý tưởng của các nhà nước kinh tế tự do, không can thiệp [16, tr. Đối với Luật tranh tụng Hoàng Gia của Vương quốc Anh 7 z được ban hành năm 1947, ông nhận định “Nó là nền tảng cho nhà nước pháp quyền mà Hoàng gia, giống như các nhà cầm quyền khác, nên chịu sự chia sẻ công bằng đối với các trách nhiệm pháp lý và chịu trách nhiệm trước những sai lầm gây ra” [16, tr.
Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những lập luận phê phán thuyết “miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường” tại Vương quốc Anh. Nguyên tắc pháp lý về miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường hay "sự miễn trừ trách nhiệm đối với pháp luật thông thường" được hình thành ngay trong thời trung cổ với quy tắc đơn giản, theo đó, một lãnh chúa phong kiến không thể bị kiện tại chính “tòa án” riêng của mình [16, tr. Đồng thời, nhà vua trong thời kì phong kiến cũng không thể bị kiện. Nhà sử học về pháp lý giải thích điều này như là cơ sở của câu châm ngôn quen thuộc "Nhà vua không bao giờ sai”.
Như các học giả đã nói: "Luật pháp nước Anh không cung cấp bất kỳ phương tiện nào mà trong đó nhà vua có thể bị trừng phạt hoặc bị bắt buộc phải bồi thường" [16, tr. Thuật ngữ "Vương quyền" mà được sử dụng đến ngày nay, với hàm ý là độc đoán, quyền hạn và quyền lực tuyệt đối, không thể áp dụng vào các học thuyết thời Trung cổ về địa vị của vua. Khi các nhà chính trị học của thế kỷ 17 và sau đó, đã chỉnh sửa và mở ra các khái niệm mới khiến cho châm ngôn về các thủ tục trước đây thay đổi ý nghĩa của nó: nhà vua không thể bị kiện trừ khi có thủ tục đặc biệt từ yêu cầu của bên có quyền, có nghĩa là nhà vua không thể bị coi là phạm tội hoặc phạm các sai lầm cá nhân gây thiệt hại. Theo tác giả thì cách đơn giải nhất để hạn chế sự miễn trừ trách nhiệm đối với hoàng gia trong nhà nước hiện đại là đặt ra một “bức màn” phía trước nhà vua bằng cách tạo ra một pháp nhân nhân tạo gọi là Nhà nước, quốc gia hay thậm chí là Chính phủ.
Thông luật không thể thực hiện được bước nhảy vọt này. Chủ thuyết này đã được duy trì trong Chính phủ quân chủ ở Anh không phải là điều ngạc nhiên. Điều đáng ngạc nhiên hơn là ở những nước cộng hòa như Hoa Kỳ hay Pháp cũng thừa nhận miễn trừ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc kiện tụng. Câu châm ngôn "nhà vua không sai" vẫn còn được sử dụng ở Pháp thế kỷ XIX và Laferriere - luật sư công vĩ đại thế kỷ 19, đã liên kết việc miễn trừ trách nhiệm pháp lý với các lý thuyết chính trị của Vương quyền khi ông nói rằng thuộc tính cơ bản của Vương quyền đó là áp đặt chính nó lên tất cả mọi người mà không có bồi thường.
Các rào cản thủ tục thời trung cổ đã phát triển thành một khả năng miễn trừ độc lập đối với 8 z các thủ tục tố tụng pháp lý - những thủ tục được thiết kế để ngăn chặn, hạn chế quyền hạn của chính phủ và sách nhiễu của các thành phần thuộc chính phủ thông qua các hành động trong các tòa án dân sự. Trên thực tế, khoảng trống pháp lý về sự thiếu trách nhiệm của vương quyền về bồi thường thiệt hại đã được lấp đầy bởi nguyên tắc trách nhiệm pháp lý của cá nhân, người đã mắc sai lầm: cá nhân công chức có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những sai lầm mà mình mắc phải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Dicey, một học giả thời đó, nêu cao tư tưởng này trong một hiến pháp tín ngưỡng (constitutional dogma) đáng tôn sùng được thể hiện trong một tác phẩm kinh điển của ông, khi ông định nghĩa các quy định của pháp luật như sau: "Chúng ta ở vị trí thứ hai, khi chúng ta nói về các quy định của pháp luật như một đặc điểm của nước ta, không chỉ vì với chúng ta không có người nào đứng trên luật pháp, mà ở đây mỗi người, bất kể địa vị hay điều kiện của họ, đều là đối tượng của pháp luật thông thường của vương quốc và chịu trách nhiệm với quyền xét xử của tòa án thông thường. nước Anh, ý tưởng bình đẳng pháp lý, hay sự tuôn thủ của tất cả các giai cấp đối với một hệ thống pháp luật được quản lý bởi các tòa án thông thường đã được đẩy đến giới hạn tối đa của nó.
Mỗi cán bộ, từ Thủ tướng Chính phủ đến nguyên soái hay người thu thuế, đều chịu trách nhiệm như nhau cho mỗi hành động của họ giống như mọi công dân khác mà không có sự biện minh của pháp luật. Đã có rất nhiều vụ việc mà trong đó các công chức đã được đưa ra trước tòa và trong tư cách cá nhân, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ của họ. Một thống đốc thuộc địa, một thư ký chính phủ, sĩ quan quân đội, mặc dù thực hiện các lệnh của cấp trên nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm về bất kỳ hành động mà pháp luật không cho phép như là những cá nhân bình thường. Như vậy, thời kỳ này, pháp luật chưa thiết lập cơ chế TNBTCNN, tuy nhiên, người bị thiệt hại vẫn có cơ chế pháp lý để thực hiện quyền bồi thường thiệt hại của mình.
Đồng thời, tác giả cũng bình luận về mục tiêu thứ hai của trách nhiệm BTTH đó là vai trò ngăn chặn sự xâm phạm quyền. Theo đó, trong pháp luật công, hành vi buộc bồi thường thiệt hại là một cách thức tán thành “các quy định của pháp luật” bằng cách ngăn chặn lạm dụng quyền lực và hành động bất hợp pháp của các quan chức Chính phủ. Một công chức chịu trách nhiệm cá nhân về lạm 9 z dụng quyền lực dường như thích hợp, bởi vì những quyền hạn mà anh ta được giao phó là rất lớn. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một cách bắt anh ta phải chịu tội.
Như một thẩm phán Pháp đã từng nói trong sự biện minh của hệ thống luật Anh "Nỗi sợ hãi xử phạt cá nhân đối với một công chức chắc chắn là “cái phanh” mạnh hơn rất nhiều so với trách nhiệm sau cùng đối với công việc mà một công chức được tuyển dụng thực hiện" [16, tr. Vậy đâu là cơ sở để hình thành TNBTCNN, tác giả đưa ra lập luận rằng, nếu như cá nhân chịu trách nhiệm bồi thường thì trong nhiều trường hợp nguồn tài chính của cá nhân không đủ để thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường. Trong khi Nhà nước - Vương triền mà họ phụng sự thường không có giới hạn về nguồn lực tài chính. Từ đó, thông luật đã đưa ra giải pháp là áp dụng trách nhiệm liên đới để cho phép sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để chi trả bồi thường, tương tự như pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.
Tác giả cũng cho rằng, ngày nay, trách nhiệm liên đới là quy luật hơn là ngoại lệ, theo đó, người chủ, người hưởng lợi từ công việc của người đầy tớ, sẽ phải cung cấp các khoản tiền bồi thường nếu người đầy tớ phạm sai lầm cá nhân. Tương tự, các đầy tớ của vua phạm sai lầm, quỹ Chính phủ sẽ thực hiện việc bồi thường cho những sai lầm đó. Đây chính là nguyên lý làm nền tảng cho việc ban hành Luật tranh tụng Hoàng gia năm 1947. Mặc dù vậy, tác giả cho rằng, đạo luật này còn những hạn chế bởi lẽ đạo luật còn quy định duy trì nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm bồi thường của chính phủ trong hoạt động tư pháp và một số trường hợp đặc biệt khác [16, tr.
Trong cuốn sách của mình, tác giả cũng đã bình luận về bản chất và nội dung của TNBTCNN tại Vương Quốc Anh, theo đó các nguyên tắc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng để xác định thiệt hại được Nhà nước bồi thường cũng như phân tích về nguyên tắc xem xét tính trái pháp luật trong hoạt động công vụ để làm cơ sở xác định TNBTCNN [16, tr. Trong số các nước có Luật TNBTCNN thì Trung Quốc là quốc gia có thể chế chính trị tương đồng với Việt Nam đã ban hành Luật này vào năm 1994 và được ghi nhận có một số công trình khoa học về lĩnh vực này. Trong đó bao gồm: Mã Hoại Đức (chủ biên), Nghiên cứu một số vấn đề về Luật Bồi thường nhà nước, Nxb Pháp luật Trung Quốc năm 2005; Cao Gia Vĩ, Luật Bồi thường nhà nước, sách chuyên khảo, Nhà sách Thương vụ Trung Quốc, năm 2004; Trang Công Thắng và 10 z Lưu Chí Tân, Bồi thường nhà nước và giám định tổn thất tinh thần, Sách chuyên khảo, Nxb Tòa án nhân dân, Trung Quốc năm 2005. Các tác giả khẳng định rằng việc ban hành chế định bồi thường nhà nước của các quốc gia là quy luật khách quan trong tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội, đặc biệt việc các quốc gia trên thế giới chấp nhận và ngày càng mở rộng phạm vi bồi thường trong lĩnh vực hành chính là bước đột phá trong quan hệ bồi thường của Nhà nước, qua đó đánh giá và là thước đo nền dân chủ ở mỗi quốc gia.
Cách tiếp cận vấn đề về trách nhiệm giữa các chủ thể trong mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước, một bên là cá nhân, tổ chức trong xã hội dân chủ mà ở đó quyền công dân, quyền con người được đề cao.