Trách Nhiệm Bồi Thường Của Nhà Nước Trong Điều Kiện Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận án TS luật 623801.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

174
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2. Nhận xét chung và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

1.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

2.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

2.2. Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và vấn đề trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

2.3. Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

2.4. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM

3.1. Quá trình hình thành trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam

3.2. Nội dung cơ bản của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành

3.3. Kết quả thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

3.4. Hạn chế, bất cập của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành so với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

4.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

4.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước Hiện Nay

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) là một chế định pháp luật mới, giao thoa giữa luật hành chính và luật dân sự. Trên thế giới, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này còn hạn chế. Theo Carol Harlow, hầu hết sách về luật hiến pháp hoặc luật hành chính chỉ có một chương về trách nhiệm của Nhà nước, tập trung phân tích các quy định của Luật tranh tụng Hoàng Gia (Crown Proceeding Act) năm 1947. Pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ít được quan tâm đến trách nhiệm bồi thường nhà nước. Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN cần xem xét trên cơ sở đánh giá mục tiêu và nguyên tắc điều chỉnh của cả pháp luật hành chính và pháp luật dân sự. Cơ chế TNBTCNN có sự tham gia của ba chủ thể: cán bộ, công chức gây ra thiệt hại, người bị thiệt hại và nhà nước.

1.1. Nghiên Cứu Về Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước Ở Nước Ngoài

Cuốn sách "Bồi thường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Chính phủ" của Carol Harlow là một trong số ít công trình nghiên cứu toàn diện về TNBTCNN. Tác giả phân tích tính hợp lý và sự cần thiết của việc xác lập TNBTCNN, tổng hợp các án lệ và tranh luận để kết luận rằng các hoạt động công cộng không được gây thiệt hại mà không bồi thường. Theo đó, Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường tương tự như cá nhân, tổ chức. Quan niệm về trách nhiệm bồi thường liên kết với lý tưởng của các nhà nước kinh tế tự do, không can thiệp.

1.2. Phê Phán Thuyết Miễn Trừ Quốc Gia Về Trách Nhiệm Bồi Thường

Harlow phê phán thuyết “miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường” tại Vương quốc Anh. Nguyên tắc này hình thành từ thời trung cổ, theo đó lãnh chúa phong kiến không thể bị kiện tại tòa án riêng của mình. Nhà vua cũng không thể bị kiện, dựa trên châm ngôn "Nhà vua không bao giờ sai". Tuy nhiên, tác giả cho rằng cách đơn giản nhất để hạn chế sự miễn trừ trách nhiệm đối với hoàng gia là thông qua các thủ tục đặc biệt từ yêu cầu của bên có quyền.

II. Bản Chất Pháp Lý Trách Nhiệm Bồi Thường Của Nhà Nước

Bản chất pháp lý của TNBTCNN là sự kết hợp giữa luật công và luật tư. Hoạt động của Nhà nước được điều chỉnh bởi pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và hành chính (luật công). Nếu Nhà nước gây ra thiệt hại trái pháp luật cho tổ chức, cá nhân, việc xác định trách nhiệm bồi thường phải được điều chỉnh bởi các quy định của luật công. Tuy nhiên, theo nguyên tắc mọi tổ chức, cá nhân và Nhà nước đều bình đẳng trước pháp luật, các tiêu chuẩn về bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự (luật tư) sẽ được áp dụng. TNBTCNN có ý nghĩa cả về phương diện chính trị và pháp lý. Trên phương diện chính trị, TNBTCNN là một biểu hiện của nhà nước pháp quyền.

2.1. Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước Trong Nhà Nước Pháp Quyền

Thực thi dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân là yêu cầu đối với nhà nước pháp quyền. Thông qua cơ chế pháp luật, nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị xử lý và phải chịu chế tài theo quy định của pháp luật. Việc thừa nhận TNBTCNN và thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi trách nhiệm pháp lý này là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

2.2. Ý Nghĩa Pháp Lý Của Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước

TNBTCNN là cơ chế hữu hiệu để bảo đảm thực hiện quyền được bồi thường của tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp ghi nhận, đồng thời, góp phần duy trì sự ổn định của hoạt động công vụ. Trong cơ chế TNBTCNN, Nhà nước là chủ thể bồi thường thay thế người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại. Thông qua công cụ pháp luật, Nhà nước quy định cụ thể các tiêu chí, chuẩn mực xác định trách nhiệm bồi thường, xác định thiệt hại được bồi thường, trách nhiệm và thủ tục giải quyết bồi thường để bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại được thực hiện trên thực tế.

III. Thực Trạng Pháp Luật Về Bồi Thường Nhà Nước Tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam về TNBTCNN đã có những bước tiến quan trọng, đặc biệt là sau khi Luật TNBTCNN năm 2009 được ban hành. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập so với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Một trong những vấn đề là tính khả thi của cơ chế giải quyết bồi thường. Trong quan hệ TNBTCNN, bên yêu cầu bồi thường - tổ chức, cá nhân bị thiệt hại luôn là bên yếu thế về địa vị pháp lý so với bên bồi thường - Nhà nước. Giải quyết bồi thường nhà nước là hoạt động phức tạp và nhạy cảm vì liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế, chính trị của cán bộ, công chức đã gây ra thiệt hại.

3.1. Hạn Chế Trong Cơ Chế Giải Quyết Bồi Thường Nhà Nước

Hoạt động giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ chịu nhiều sức ép mà hậu quả là không bảo đảm tính khả thi của cơ chế bồi thường nhà nước. Để bảo đảm những nguyên tắc của nhà nước pháp quyền thì yêu cầu đặt ra là cơ chế TNBTCNN phải có tính thực tiễn, khả thi và hiệu quả. Mặt khác, đặc điểm của quan hệ bồi thường thiệt hại là việc giải quyết xung đột lợi ích giữa bên yêu cầu bồi thường và bên bồi thường.

3.2. Cân Bằng Lợi Ích Giữa Nhà Nước Và Công Dân Trong Bồi Thường

Trong TNBTCNN, nếu phạm vi trách nhiệm bồi thường càng rộng thì càng gây sức ép đối với Nhà nước, trái lại, phạm vi trách nhiệm bồi thường hẹp thì lại không bảo đảm quyền được bồi thường của tổ chức và cá nhân đã được Hiến pháp quy định. Do đó, vấn đề đặt ra đối với cơ chế TNBTCNN là phải bảo đảm sự cân bằng hợp lý lợi ích của Nhà nước và của công dân. Ý nghĩa của TNBTCNN là rất to lớn trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân mà trực tiếp là quyền được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước gây ra.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Bồi Thường Nhà Nước Hiện Nay

Để nâng cao hiệu quả của TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cần có những giải pháp đồng bộ cả về pháp luật và thực tiễn. Cần hoàn thiện các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường, thủ tục giải quyết bồi thường, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết bồi thường. Đồng thời, cần nâng cao năng lực và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực thi công vụ, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TNBTCNN để nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ, công chức.

4.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật về TNBTCNN. Cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn về các trường hợp được bồi thường thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại, thủ tục giải quyết bồi thường, cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến TNBTCNN.

4.2. Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Trong Giải Quyết Bồi Thường

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác giải quyết bồi thường nhà nước. Cần nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, đảm bảo giải quyết bồi thường khách quan, công bằng, đúng pháp luật. Cần có cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả hoạt động giải quyết bồi thường của cán bộ, công chức.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước

Việc thực hiện TNBTCNN trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nhiều vụ việc giải quyết bồi thường kéo dài, gây bức xúc trong dư luận. Nguyên nhân là do pháp luật còn chưa hoàn thiện, thủ tục giải quyết bồi thường còn phức tạp, năng lực của cán bộ còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật của một số cán bộ, công chức còn chưa cao. Để nâng cao hiệu quả thực hiện TNBTCNN, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, sự tham gia tích cực của người dân và các tổ chức xã hội.

5.1. Khó Khăn Trong Thực Tiễn Giải Quyết Bồi Thường Nhà Nước

Thực tế cho thấy, nhiều vụ việc giải quyết bồi thường kéo dài, gây bức xúc trong dư luận. Nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật còn chưa hoàn thiện, thủ tục giải quyết bồi thường còn phức tạp, năng lực của cán bộ còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật của một số cán bộ, công chức còn chưa cao. Cần có giải pháp khắc phục những khó khăn này để đảm bảo quyền lợi của người dân.

5.2. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Bồi Thường Nhà Nước

Để nâng cao hiệu quả thực hiện TNBTCNN, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, sự tham gia tích cực của người dân và các tổ chức xã hội. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TNBTCNN để nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ, công chức. Cần có cơ chế giám sát hiệu quả hoạt động giải quyết bồi thường của các cơ quan nhà nước.

VI. Tương Lai Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước Tại Việt Nam

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, TNBTCNN ngày càng có vai trò quan trọng. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN, nâng cao hiệu quả thực hiện TNBTCNN để đảm bảo quyền lợi của người dân, góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cần nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới về TNBTCNN để áp dụng phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

6.1. Vai Trò Của Trách Nhiệm Bồi Thường Nhà Nước Trong Tương Lai

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, TNBTCNN ngày càng có vai trò quan trọng. Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện TNBTCNN là yêu cầu tất yếu để đảm bảo quyền lợi của người dân và xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự.

6.2. Học Hỏi Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Bồi Thường Nhà Nước

Cần nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới về TNBTCNN để áp dụng phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế sẽ giúp Việt Nam xây dựng một hệ thống pháp luật về TNBTCNN hoàn thiện, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong điều kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam luận án ts luật 623801

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu bằng việc phân tích tính hợp lý và sự cần thiết phải xác lập TNBTCNN, tác giả đã tổng hợp các án lệ và các tranh luận của các học giả để đưa đến kết luận là “các hoạt động thực hiện vì lợi ích công cộng không được phép gây ra thiệt hại mà không có bồi thường cho các cá nhân… Nạn nhân trong các vụ tai nạn phải ở vị trí pháp lý giống nhau dù cho chiếc xe tải đâm họ hay nhà máy nơi họ bị tai nạn được sở hữu bởi một cá nhân, một công ty hoặc của nhà nước” [16, tr. 11] và theo đó Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường tương tự như cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đồng thời, ông cũng thừa nhận rằng, quan niệm về trách nhiệm bồi thường được liên kết với lý tưởng của các nhà nước kinh tế tự do, không can thiệp [16, tr. Đối với Luật tranh tụng Hoàng Gia của Vương quốc Anh 7 z được ban hành năm 1947, ông nhận định “Nó là nền tảng cho nhà nước pháp quyền mà Hoàng gia, giống như các nhà cầm quyền khác, nên chịu sự chia sẻ công bằng đối với các trách nhiệm pháp lý và chịu trách nhiệm trước những sai lầm gây ra” [16, tr.

Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những lập luận phê phán thuyết “miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường” tại Vương quốc Anh. Nguyên tắc pháp lý về miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường hay "sự miễn trừ trách nhiệm đối với pháp luật thông thường" được hình thành ngay trong thời trung cổ với quy tắc đơn giản, theo đó, một lãnh chúa phong kiến không thể bị kiện tại chính “tòa án” riêng của mình [16, tr. Đồng thời, nhà vua trong thời kì phong kiến cũng không thể bị kiện. Nhà sử học về pháp lý giải thích điều này như là cơ sở của câu châm ngôn quen thuộc "Nhà vua không bao giờ sai”.

Như các học giả đã nói: "Luật pháp nước Anh không cung cấp bất kỳ phương tiện nào mà trong đó nhà vua có thể bị trừng phạt hoặc bị bắt buộc phải bồi thường" [16, tr. Thuật ngữ "Vương quyền" mà được sử dụng đến ngày nay, với hàm ý là độc đoán, quyền hạn và quyền lực tuyệt đối, không thể áp dụng vào các học thuyết thời Trung cổ về địa vị của vua. Khi các nhà chính trị học của thế kỷ 17 và sau đó, đã chỉnh sửa và mở ra các khái niệm mới khiến cho châm ngôn về các thủ tục trước đây thay đổi ý nghĩa của nó: nhà vua không thể bị kiện trừ khi có thủ tục đặc biệt từ yêu cầu của bên có quyền, có nghĩa là nhà vua không thể bị coi là phạm tội hoặc phạm các sai lầm cá nhân gây thiệt hại. Theo tác giả thì cách đơn giải nhất để hạn chế sự miễn trừ trách nhiệm đối với hoàng gia trong nhà nước hiện đại là đặt ra một “bức màn” phía trước nhà vua bằng cách tạo ra một pháp nhân nhân tạo gọi là Nhà nước, quốc gia hay thậm chí là Chính phủ.

Thông luật không thể thực hiện được bước nhảy vọt này. Chủ thuyết này đã được duy trì trong Chính phủ quân chủ ở Anh không phải là điều ngạc nhiên. Điều đáng ngạc nhiên hơn là ở những nước cộng hòa như Hoa Kỳ hay Pháp cũng thừa nhận miễn trừ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc kiện tụng. Câu châm ngôn "nhà vua không sai" vẫn còn được sử dụng ở Pháp thế kỷ XIX và Laferriere - luật sư công vĩ đại thế kỷ 19, đã liên kết việc miễn trừ trách nhiệm pháp lý với các lý thuyết chính trị của Vương quyền khi ông nói rằng thuộc tính cơ bản của Vương quyền đó là áp đặt chính nó lên tất cả mọi người mà không có bồi thường.

Các rào cản thủ tục thời trung cổ đã phát triển thành một khả năng miễn trừ độc lập đối với 8 z các thủ tục tố tụng pháp lý - những thủ tục được thiết kế để ngăn chặn, hạn chế quyền hạn của chính phủ và sách nhiễu của các thành phần thuộc chính phủ thông qua các hành động trong các tòa án dân sự. Trên thực tế, khoảng trống pháp lý về sự thiếu trách nhiệm của vương quyền về bồi thường thiệt hại đã được lấp đầy bởi nguyên tắc trách nhiệm pháp lý của cá nhân, người đã mắc sai lầm: cá nhân công chức có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những sai lầm mà mình mắc phải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Dicey, một học giả thời đó, nêu cao tư tưởng này trong một hiến pháp tín ngưỡng (constitutional dogma) đáng tôn sùng được thể hiện trong một tác phẩm kinh điển của ông, khi ông định nghĩa các quy định của pháp luật như sau: "Chúng ta ở vị trí thứ hai, khi chúng ta nói về các quy định của pháp luật như một đặc điểm của nước ta, không chỉ vì với chúng ta không có người nào đứng trên luật pháp, mà ở đây mỗi người, bất kể địa vị hay điều kiện của họ, đều là đối tượng của pháp luật thông thường của vương quốc và chịu trách nhiệm với quyền xét xử của tòa án thông thường. nước Anh, ý tưởng bình đẳng pháp lý, hay sự tuôn thủ của tất cả các giai cấp đối với một hệ thống pháp luật được quản lý bởi các tòa án thông thường đã được đẩy đến giới hạn tối đa của nó.

Mỗi cán bộ, từ Thủ tướng Chính phủ đến nguyên soái hay người thu thuế, đều chịu trách nhiệm như nhau cho mỗi hành động của họ giống như mọi công dân khác mà không có sự biện minh của pháp luật. Đã có rất nhiều vụ việc mà trong đó các công chức đã được đưa ra trước tòa và trong tư cách cá nhân, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ của họ. Một thống đốc thuộc địa, một thư ký chính phủ, sĩ quan quân đội, mặc dù thực hiện các lệnh của cấp trên nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm về bất kỳ hành động mà pháp luật không cho phép như là những cá nhân bình thường. Như vậy, thời kỳ này, pháp luật chưa thiết lập cơ chế TNBTCNN, tuy nhiên, người bị thiệt hại vẫn có cơ chế pháp lý để thực hiện quyền bồi thường thiệt hại của mình.

Đồng thời, tác giả cũng bình luận về mục tiêu thứ hai của trách nhiệm BTTH đó là vai trò ngăn chặn sự xâm phạm quyền. Theo đó, trong pháp luật công, hành vi buộc bồi thường thiệt hại là một cách thức tán thành “các quy định của pháp luật” bằng cách ngăn chặn lạm dụng quyền lực và hành động bất hợp pháp của các quan chức Chính phủ. Một công chức chịu trách nhiệm cá nhân về lạm 9 z dụng quyền lực dường như thích hợp, bởi vì những quyền hạn mà anh ta được giao phó là rất lớn. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một cách bắt anh ta phải chịu tội.

Như một thẩm phán Pháp đã từng nói trong sự biện minh của hệ thống luật Anh "Nỗi sợ hãi xử phạt cá nhân đối với một công chức chắc chắn là “cái phanh” mạnh hơn rất nhiều so với trách nhiệm sau cùng đối với công việc mà một công chức được tuyển dụng thực hiện" [16, tr. Vậy đâu là cơ sở để hình thành TNBTCNN, tác giả đưa ra lập luận rằng, nếu như cá nhân chịu trách nhiệm bồi thường thì trong nhiều trường hợp nguồn tài chính của cá nhân không đủ để thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường. Trong khi Nhà nước - Vương triền mà họ phụng sự thường không có giới hạn về nguồn lực tài chính. Từ đó, thông luật đã đưa ra giải pháp là áp dụng trách nhiệm liên đới để cho phép sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để chi trả bồi thường, tương tự như pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra.

Tác giả cũng cho rằng, ngày nay, trách nhiệm liên đới là quy luật hơn là ngoại lệ, theo đó, người chủ, người hưởng lợi từ công việc của người đầy tớ, sẽ phải cung cấp các khoản tiền bồi thường nếu người đầy tớ phạm sai lầm cá nhân. Tương tự, các đầy tớ của vua phạm sai lầm, quỹ Chính phủ sẽ thực hiện việc bồi thường cho những sai lầm đó. Đây chính là nguyên lý làm nền tảng cho việc ban hành Luật tranh tụng Hoàng gia năm 1947. Mặc dù vậy, tác giả cho rằng, đạo luật này còn những hạn chế bởi lẽ đạo luật còn quy định duy trì nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm bồi thường của chính phủ trong hoạt động tư pháp và một số trường hợp đặc biệt khác [16, tr.

Trong cuốn sách của mình, tác giả cũng đã bình luận về bản chất và nội dung của TNBTCNN tại Vương Quốc Anh, theo đó các nguyên tắc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng để xác định thiệt hại được Nhà nước bồi thường cũng như phân tích về nguyên tắc xem xét tính trái pháp luật trong hoạt động công vụ để làm cơ sở xác định TNBTCNN [16, tr. Trong số các nước có Luật TNBTCNN thì Trung Quốc là quốc gia có thể chế chính trị tương đồng với Việt Nam đã ban hành Luật này vào năm 1994 và được ghi nhận có một số công trình khoa học về lĩnh vực này. Trong đó bao gồm: Mã Hoại Đức (chủ biên), Nghiên cứu một số vấn đề về Luật Bồi thường nhà nước, Nxb Pháp luật Trung Quốc năm 2005; Cao Gia Vĩ, Luật Bồi thường nhà nước, sách chuyên khảo, Nhà sách Thương vụ Trung Quốc, năm 2004; Trang Công Thắng và 10 z Lưu Chí Tân, Bồi thường nhà nước và giám định tổn thất tinh thần, Sách chuyên khảo, Nxb Tòa án nhân dân, Trung Quốc năm 2005. Các tác giả khẳng định rằng việc ban hành chế định bồi thường nhà nước của các quốc gia là quy luật khách quan trong tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội, đặc biệt việc các quốc gia trên thế giới chấp nhận và ngày càng mở rộng phạm vi bồi thường trong lĩnh vực hành chính là bước đột phá trong quan hệ bồi thường của Nhà nước, qua đó đánh giá và là thước đo nền dân chủ ở mỗi quốc gia.

Cách tiếp cận vấn đề về trách nhiệm giữa các chủ thể trong mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước, một bên là cá nhân, tổ chức trong xã hội dân chủ mà ở đó quyền công dân, quyền con người được đề cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Trách Nhiệm Bồi Thường Của Nhà Nước Trong Điều Kiện Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam" khám phá các khía cạnh pháp lý liên quan đến trách nhiệm của nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại cho công dân. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân trong bối cảnh pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức mà nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường, từ đó nâng cao hiểu biết về quyền lợi của mình.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ luật học thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở việt nam hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quy trình hành chính và trách nhiệm của nhà nước. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm hình sự. Cuối cùng, Tìm hiểu về luật đất đai năm 2013 sẽ cung cấp thông tin bổ ích về quyền sở hữu và bồi thường trong lĩnh vực đất đai. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan.