Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tịnh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phạm Hồng Thái, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật (mã số 62 38 01 01), bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nhà nước pháp quyền, quyền con người và quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc tối thượng của pháp luật đòi hỏi Nhà nước và công dân phải bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Khi cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước có quyết định hoặc hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) là lĩnh vực có sự giao thoa giữa luật công (hành chính) và luật tư (dân sự). Mặc dù Luật TNBTCNN năm 2009 đã được ban hành, thực tiễn thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập, thách thức tính khả thi của cơ chế giải quyết bồi thường. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là trước thời điểm nghiên cứu sinh thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam gắn liền với yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật mới ban hành.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về TNBTCNN; chỉ ra các hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện TNBTCNN, thiết lập cơ chế pháp lý khả thi nhằm bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
Luận án xác định 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- TNBTCNN được xây dựng và hoàn thiện trên cơ sở lý thuyết nào?
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong điều kiện hiện nay đặt ra những yêu cầu gì đối với TNBTCNN?
- TNBTCNN theo quy định của pháp luật hiện hành có hạn chế, bất cập gì trước yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam?
- Có những giải pháp nào để bảo đảm thực hiện TNBTCNN đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong điều kiện thi hành Hiến pháp năm 2013?
Giả thuyết khoa học của luận án: TNBTCNN chỉ có thể hình thành và phát triển trong điều kiện nhà nước dân chủ và pháp quyền; là cơ chế pháp lý để người dân thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. TNBTCNN ở Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN do hệ thống pháp luật còn bất cập và thiếu cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về TNBTCNN tại Việt Nam.
- Phạm vi không gian và thời gian: Tập trung nghiên cứu việc bồi thường của Nhà nước theo phạm vi và trình tự giải quyết của Luật TNBTCNN năm 2009; khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của chế định TNBTCNN tại Việt Nam trước và sau năm 2009, gắn với bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 2013; đồng thời nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:
Các công trình khoa học quốc tế
- Tác giả Carol Harlow (1982) với tác phẩm Bồi thường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Chính phủ (Compensation and Government Torts, Nhà xuất bản London Sweet and Maxwell): Phân tích tính hợp lý của việc xác lập TNBTCNN, lịch sử bãi bỏ thuyết "miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường" (học thuyết "nhà vua không bao giờ sai" trong Thông luật Anh), đánh giá Luật Tranh tụng Hoàng gia Anh năm 1947 (Crown Proceedings Act 1947) và tư tưởng của A. V. Dicey về sự bình đẳng pháp lý của mọi công chức trước tòa án thông thường.
- Nhóm tác giả Trung Quốc nghiên cứu Luật Bồi thường nhà nước năm 1994: Mã Hoại Đức chủ biên (2005) trong Nghiên cứu một số vấn đề về Luật Bồi thường nhà nước; Cao Gia Vĩ (2004) trong sách chuyên khảo Luật Bồi thường nhà nước; Trang Công Thắng và Lưu Chí Tân (2005) trong Bồi thường nhà nước và giám định tổn thất tinh thần. Các tác giả phân tích sự mở rộng phạm vi bồi thường hành chính và các tiêu chuẩn định mức bồi thường tổn thất tinh thần.
- Các báo cáo chuyên gia quốc tế tại các hội thảo khoa học ở Việt Nam năm 2007: Taro Morinaga (Nhật Bản - phân tích Luật Bồi thường nhà nước năm 1946 gồm 6 điều); Alfredo Santos (Thụy Sỹ); Christian A. Brendel (Cộng hòa Liên bang Đức); Arnel Cezar (Philippines); Inosentius Samsul (Indonesia); cùng các nghiên cứu về Luật Khiếu kiện bồi thường thiệt hại Liên bang của Hoa Kỳ năm 1946 (Federal Tort Claims Act - FTCA).
Các công trình khoa học trong nước
- Nhóm nghiên cứu lý luận và thể chế: Phạm Hồng Thái (2008) phân tích bản chất công vụ của TNBTCNN, phân biệt lỗi công vụ và lỗi cá nhân; Trịnh Đức Thảo (2008) phân tích hai lý thuyết (trách nhiệm trực tiếp và trách nhiệm thay thế) cùng sự khác biệt giữa bồi thường thiệt hại và đền bù tổn thất; Dương Văn Hậu (2008) phân tích ranh giới bồi thường - đền bù, tính bất hợp pháp của hành vi và yếu tố lỗi; Đề tài cấp trường của ĐH Luật Hà Nội do Nguyễn Minh Tuấn làm chủ nhiệm (2008) về trách nhiệm dân sự của cơ quan, tổ chức đối với thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra.
- Nhóm nghiên cứu sau khi ban hành Luật TNBTCNN năm 2009: Đinh Trung Tụng chủ biên (2009) trong sách chuyên khảo Những vấn đề cơ bản của Luật TNBTCNN; Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên (2012) trong sách chuyên khảo Tìm hiểu pháp luật về TNBTCNN và Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Các biện pháp bảo đảm thi hành Luật TNBTCNN (2012); Nguyễn Đỗ Kiên (2014) với luận án tiến sĩ về thực hiện pháp luật TNBTCNN do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra.
- Nhóm nghiên cứu gắn với Nhà nước pháp quyền: Nguyễn Như Phát (2007), Nguyễn Đăng Dung (2007 - nghiên cứu về bồi thường thiệt hại trong lập pháp), Đề tài cấp Bộ của Viện Nhà nước và Pháp luật (2009) về cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về bồi thường nhà nước.
Khoảng trống luận án giải quyết
Phần lớn các công trình trong nước được thực hiện trong bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 1992. Luận án này tiếp cận và giải quyết vấn đề TNBTCNN một cách toàn diện dưới góc độ lý luận và thực tiễn của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, làm rõ cơ sở lý thuyết cho việc hoàn thiện pháp luật, mô hình cơ quan giải quyết và cơ chế bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường của công dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết Nhà nước pháp quyền: Dựa trên 5 đặc trưng cơ bản gồm tính hợp pháp của Nhà nước; tính thượng tôn pháp luật; nguyên tắc phân quyền và kiểm soát quyền lực; tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; và tính đầy đủ, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật.
- Lý thuyết trách nhiệm thay thế (vicarious liability) kết hợp trách nhiệm hoàn trả: Nhà nước đứng ra gánh vác trách nhiệm bồi thường thay cho người thi hành công vụ nhằm bảo đảm sự ổn định công vụ và năng lực tài chính chi trả, sau đó người thi hành công vụ có lỗi phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước.
- Tính chất giao thoa giữa luật công và luật tư: Mối quan hệ phát sinh từ hoạt động công quyền (luật công), nhưng quyền yêu cầu bồi thường và các tiêu chuẩn xác định thiệt hại lại mang bản chất của quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (luật tư).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật: Đánh giá các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật TNBTCNN năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Phương pháp luật học so sánh: Khảo cứu, đối chiếu mô hình và quy định pháp luật về TNBTCNN của Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Thụy Sỹ, Philippines, Indonesia.
- Phương pháp lịch sử - cụ thể: Khảo cứu sự phát triển của chế định bồi thường nhà nước qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật, đánh giá số liệu báo cáo của các cơ quan quản lý và cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Các bản Hiến pháp (1959, 1980, 1992, 2013), Bộ luật Dân sự (1995, 2005, 2015), Luật TNBTCNN năm 2009, Nghị định số 47/CP (1997), Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11.
- Văn bản pháp luật nước ngoài: Đạo luật Tranh tụng Hoàng gia Anh 1947, Luật Khiếu kiện bồi thường thiệt hại Liên bang Hoa Kỳ 1946 (Điều 2672 FTCA), Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản 1946, Luật Bồi thường nhà nước Trung Quốc 1994.
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo công tác bồi thường nhà nước của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các kỷ yếu hội thảo khoa học và tài liệu nghiên cứu chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương |
Trọng tâm nghiên cứu |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài |
Tổng thuật các công trình trong và ngoài nước; xác định câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết khoa học và phương pháp luận. |
| Chương 2 |
Lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam |
Phân tích khái niệm, đặc điểm, khách thể, điều kiện phát sinh, trách nhiệm thay thế - hoàn trả; mối quan hệ với NNPQ; kinh nghiệm quốc tế. |
| Chương 3 |
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam |
Quá trình hình thành lịch sử; nội dung cơ bản theo Luật năm 2009; kết quả và những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành. |
| Chương 4 |
Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam |
Hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, bộ máy, kinh phí và nâng cao hiệu quả thực thi. |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về TNBTCNN từ góc độ luật so sánh và luật thực định Việt Nam. Tác giả phân tích các luồng quan điểm về bản chất của TNBTCNN: (1) quan hệ hành chính thuần túy, (2) trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo luật dân sự, và (3) trách nhiệm pháp lý đặc biệt mang tính giao thoa công - tư. Chương này chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu dưới nền tảng Hiến pháp năm 1992, từ đó khẳng định tính cần thiết phải đặt TNBTCNN trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền XHCN theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Chương 2: Lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cốt lõi:
- Khái niệm và đặc điểm: TNBTCNN là trách nhiệm pháp lý mà Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về vật chất và bù đắp tổn thất về tinh thần cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra.
- Điều kiện phát sinh đặc thù: So với trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng thông thường (gồm 4 yếu tố: có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả, có lỗi), điều kiện phát sinh TNBTCNN tại Việt Nam theo Luật năm 2009 bao gồm 3 yếu tố: (1) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (2) Có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại. Yếu tố lỗi cá nhân của người thi hành công vụ không phải là điều kiện để bên bị thiệt hại chứng minh khi yêu cầu bồi thường, bởi vì hành vi trái pháp luật trong công vụ mặc nhiên được coi là có lỗi đối với nền hành chính công.
- Mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền: Nhà nước pháp quyền là nền tảng hình thành TNBTCNN. Tác giả phân tích 5 đặc trưng của Nhà nước pháp quyền, khẳng định Nhà nước tự đặt mình dưới pháp luật, bình đẳng trước pháp luật như mọi chủ thể khác.
- Cơ chế trách nhiệm thay thế và trách nhiệm hoàn trả: Luận án chứng minh sự phù hợp của lý thuyết trách nhiệm thay thế (Nhà nước bồi thường trước nhằm bảo đảm quyền lợi tài chính cho nạn nhân) đi đôi với cơ chế trách nhiệm hoàn trả của cán bộ, công chức có lỗi nhằm duy trì kỷ cương công vụ và ngăn ngừa lạm quyền.
Chương 3: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam
Chương 3 tổng kết tiến trình lập hiến và lập pháp tại Việt Nam:
- Lịch sử hình thành: Quyền được bồi thường được ghi nhận từ Điều 29 Hiến pháp năm 1959, Điều 73 Hiến pháp năm 1980, Điều 72 và 74 Hiến pháp năm 1992; được cụ thể hóa qua Điều 623, 624 Bộ luật Dân sự năm 1995; Nghị định số 47/CP năm 1997; Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11; Điều 619, 620 Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật TNBTCNN năm 2009 và Điều 598 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành:
- Quy định về văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường: Luật năm 2009 bắt buộc người bị thiệt hại phải có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thì mới được thụ lý yêu cầu bồi thường. Quy định này đặt gánh nặng chứng minh lên bên yếu thế, tạo rào cản hành chính lớn.
- Mô hình cơ quan giải quyết bồi thường phân tán: Trách nhiệm giải quyết bồi thường giao cho chính cơ quan quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, dẫn đến tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi", thiếu tính khách quan và gây kéo dài thời gian giải quyết.
- Phạm vi thiệt hại được bồi thường còn hẹp: Chưa bao quát đầy đủ các loại chi phí thực tế phát sinh của người bị thiệt hại (chi phí khiếu nại, tố cáo, thuê luật sư) và định mức bồi thường tổn thất tinh thần còn thấp.
- Cơ chế trách nhiệm hoàn trả thiếu hiệu quả: Việc xác định mức hoàn trả và tổ chức thu hồi tiền hoàn trả từ cán bộ, công chức gây thiệt hại chưa có chế tài nghiêm ngặt.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 4 đưa ra phương hướng và giải pháp cụ thể:
- Hệ quan điểm chỉ đạo: Thể chế hóa đầy đủ các quyền hiến định về quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013; bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật và tính khả thi; cân bằng hài hòa giữa lợi ích công dân và khả năng ngân sách nhà nước; gắn hoàn thiện TNBTCNN với cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế: Sửa đổi toàn diện Luật TNBTCNN năm 2009 theo hướng:
- Bỏ quy định bắt buộc phải có trước văn bản xác định hành vi trái pháp luật như một điều kiện tiên quyết để nộp đơn yêu cầu bồi thường; nghĩa vụ chứng minh hành vi công vụ đúng pháp luật thuộc về cơ quan nhà nước.
- Mở rộng phạm vi các trường hợp Nhà nước phải bồi thường trong quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.
- Đơn giản hóa thủ tục giải quyết bồi thường, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khởi kiện thẳng ra Tòa án khi không thỏa thuận được với cơ quan bồi thường.
- Bổ sung, hoàn thiện các quy định về xác định thiệt hại vật chất và tinh thần thỏa đáng hơn.
- Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy và nguồn lực: Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường; quy định rõ trách nhiệm tài chính và thủ tục cấp phát kinh phí chi trả bồi thường từ ngân sách nhà nước nhanh chóng; hoàn thiện cơ chế xử lý trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ có lỗi.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận của TNBTCNN trong mối quan hệ hữu cơ với các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Khẳng định bản chất pháp lý đặc thù của TNBTCNN là sự giao thoa giữa pháp luật hành chính (luật công) và pháp luật dân sự (luật tư).
- Luận giải cơ sở khoa học của việc áp dụng lý thuyết trách nhiệm thay thế kết hợp trách nhiệm hoàn trả, làm rõ lý do không đưa yếu tố lỗi cá nhân của công chức vào điều kiện phát sinh trách nhiệm đối với nạn nhân.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành Luật TNBTCNN năm 2009, nhận diện rõ những điểm nghẽn về thủ tục hành chính, căn cứ phát sinh và mô hình cơ quan giải quyết bồi thường.
- Đề xuất giải pháp mang tính lập pháp quan trọng: bỏ rào cản văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trước khi thụ lý yêu cầu bồi thường, chuyển nghĩa vụ chứng minh tính hợp pháp của công vụ sang cơ quan nhà nước.
- Kiến nghị hoàn thiện đồng bộ các quy định về phạm vi bồi thường, mức bồi thường thiệt hại tinh thần, quy trình giải quyết tại Tòa án và chế định hoàn trả của người thi hành công vụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế từ phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong ba lĩnh vực truyền thống (quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án) theo phạm vi của Luật TNBTCNN năm 2009. Luận án chưa đi sâu giải quyết vấn đề trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực lập pháp do tính chất đặc thù của chính sách vĩ mô và sự ủy quyền quyền lực từ nhân dân đối với cơ quan đại biểu cao nhất.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục nghiên cứu, theo dõi và đánh giá tác động thực tế của Luật TNBTCNN sửa đổi sau khi được Quốc hội ban hành; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế bồi thường thiệt hại do quyết định tư pháp sai và cơ chế bảo đảm thi hành các bản án, quyết định giải quyết bồi thường nhà nước.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học cho Bộ Tư pháp, Quốc hội và các cơ quan soạn thảo trong quá trình xây dựng, sửa đổi dự án Luật TNBTCNN (sửa đổi năm 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Cơ quan tiến hành tố tụng và hành chính: Hỗ trợ Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án và các cơ quan hành chính nhà nước trong việc áp dụng quy định về điều kiện phát sinh bồi thường, xác định thiệt hại và thực hiện nghĩa vụ hoàn trả của công chức.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Là nguồn tài liệu tham khảo hệ thống phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu các chuyên đề về Lý luận Nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính, Luật Dân sự và Nhà nước pháp quyền.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao điều kiện phát sinh TNBTCNN tại Việt Nam không bắt buộc người bị thiệt hại phải chứng minh yếu tố lỗi của người thi hành công vụ?
Theo quy định của Luật TNBTCNN năm 2009 và lý luận pháp lý hành chính, nguyên tắc của hoạt động công vụ là phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Khi người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì hành vi đó mặc nhiên được xem là có yếu tố lỗi trong quan hệ công vụ. Do đó, người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật khi thi hành công vụ và mối quan hệ nhân quả, mà không có nghĩa vụ phải chứng minh lỗi chủ quan (cố ý hay vô ý) của người thi hành công vụ.
2. Luận án phân tích sự khác nhau giữa lý thuyết trách nhiệm trực tiếp và lý thuyết trách nhiệm thay thế như thế nào?
Lý thuyết trách nhiệm trực tiếp thừa nhận Nhà nước trực tiếp chịu trách nhiệm cho các sai sót của mình, phủ nhận quan điểm "vua không bao giờ sai", nhưng có thể dẫn đến việc miễn trừ trách nhiệm hoàn trả của công chức. Trong khi đó, lý thuyết trách nhiệm thay thế xác định Nhà nước đứng ra bồi thường thay cho cán bộ, công chức gây thiệt hại nhằm bảo đảm quyền lợi tài chính của bên bị hại, sau đó người thi hành công vụ có lỗi phải thực hiện trách nhiệm hoàn trả. Đa số các quốc gia và Việt Nam lựa chọn lý thuyết trách nhiệm thay thế.
3. Học thuyết "Nhà vua không bao giờ sai" và nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm quốc gia đã chuyển biến như thế nào tại Anh và Hoa Kỳ?
Tại Vương quốc Anh, nguyên tắc trung cổ "Nhà vua không thể bị kiện" bị bãi bỏ khi Đạo luật Tranh tụng Hoàng gia năm 1947 (Crown Proceedings Act 1947) được ban hành, thừa nhận Hoàng gia phải chịu trách nhiệm bồi thường tương tự thể nhân dựa trên nguyên lý trách nhiệm liên đới. Tại Hoa Kỳ, nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm quốc gia đã được phủ quyết một phần thông qua Đạo luật Khiếu kiện bồi thường thiệt hại Liên bang năm 1946 (FTCA, Điều 2672), xác định Nhà nước Hoa Kỳ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhân viên chính phủ gây ra trong khi thi hành công vụ như một cá nhân thông thường.
4. Điểm bất cập lớn nhất của quy định về điều kiện thụ lý đơn yêu cầu bồi thường theo Luật TNBTCNN năm 2009 được tác giả chỉ ra là gì?
Đó là quy định bắt buộc người bị thiệt hại phải có sẵn văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật trước khi nộp đơn yêu cầu bồi thường. Quy định này đặt nghĩa vụ chứng minh tính trái pháp luật lên người dân - bên luôn ở vị thế yếu thế trong quan hệ công quyền, gây cản trở quyền tiếp cận công lý và quyền được bồi thường.
5. Mô hình cơ quan giải quyết bồi thường phân tán tại Việt Nam bộc lộ những hạn chế gì?
Mô hình phân tán giao thẩm quyền giải quyết bồi thường cho chính cơ quan quản lý cán bộ, công chức gây thiệt hại. Điều này dẫn đến sự thiếu khách quan trong quá trình giải quyết bồi thường, các cơ quan thực hiện không có tính chuyên trách nên lúng túng về nghiệp vụ, và người bị thiệt hại gặp khó khăn trong việc xác định chính xác cơ quan nào có trách nhiệm bồi thường khi có nhiều đơn vị liên quan.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Tịnh đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý thuyết và thực tiễn của chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Bằng việc phân tích bản chất giao thoa giữa luật công và luật tư, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và tổng kết thực tiễn thi hành Luật TNBTCNN năm 2009, công trình đã luận giải tính tất yếu của việc mở rộng và bảo đảm thực thi quyền được bồi thường của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Các luận điểm, phân tích và đề xuất sửa đổi thể chế trong luận án là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác lập pháp và hoàn thiện nền tài phán hành chính tại Việt Nam.