Luận văn Thạc sĩ: Kỹ thuật tra cứu ảnh ứng dụng kiểm chứng cổ vật

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu một số kỹ thuật tra cứu ảnh và ứng dụng vào bài toán kiểm chứng cổ vật luận văn ths công, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Không có thông tin

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

Không có thông tin

86
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRA CỨU ẢNH

1.1. VẤN ĐỀ TRA CỨU ẢNH

1.2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TRA CỨU ẢNH

1.2.1. Tra cứu ảnh theo nội dung

1.2.2. Tra cứu ảnh theo bản thể (ontology-based image retrieval)

1.2.3. Tra cứu ảnh theo đồ thị (graph based image retrieval)

2. CHƯƠNG 2: TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG

2.1. MÔ HÌNH HỆ THỐNG TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG

2.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP MÔ TẢ NỘI DUNG ẢNH

2.2.1. Mô tả các đặc điểm màu sắc

2.2.2. Mô tả các đặc điểm kết cấu

2.2.3. Mô tả các đặc điểm hình dạng

2.2.4. Thông tin về không gian

2.3. ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG TỰ VÀ XÂY DỰNG SƠ ĐỒ ĐÁNH CHỈ SỐ

2.3.1. Đánh giá độ tương tự

2.3.2. Xây dựng sơ đồ đánh chỉ số

2.4. TƯƠNG TÁC VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG

2.4.1. Đặc tả truy vấn

2.4.2. Xử lý phản hồi

2.5. HIỆU NĂNG CỦA HỆ THỐNG TRA CỨU ẢNH

3. CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG

3.1. GIỚI THIỆU BÀI TOÁN TRA CỨU CỔ VẬT

3.2. PHÂN TÍCH BÀI TOÁN

3.3. XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH QUERYIMAGE

3.3.1. Sơ đồ khối tổng quát

3.3.2. Tra cứu theo hình dạng

3.3.3. Tra cứu theo màu sắc

3.3.4. Sử dụng chương trình QueryImage

3.4. KHẢ NĂNG MỞ RỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH

3.4.1. Những hạn chế của chương trình

3.4.2. Khả năng mở rộng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tra Cứu Ảnh Cổ Vật Luận Văn Thạc Sĩ CNTT

Những năm gần đây, việc tra cứu ảnh cổ vật đã thu hút sự quan tâm lớn. Sự phát triển của công nghệ thu thập, lưu trữ ảnh và Internet cho phép truy cập dễ dàng vào các kho ảnh khổng lồ. Tuy nhiên, tìm kiếm một ảnh mong muốn trong số đó trở nên khó khăn. Tra cứu ảnh cổ vật là quá trình tìm kiếm trong CSDL ảnh những ảnh đáp ứng yêu cầu. Ví dụ, xác định niên đại, nguồn gốc, chất liệu một cổ vật mới sưu tầm được. Kỹ thuật tra cứu ảnh đã được nghiên cứu từ cuối những năm 70, và khả năng ứng dụng cao đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Việc tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề này là một lĩnh vực sôi động. Việc lưu trữ và tra cứu ảnh số có vai trò ngày càng quan trọng đối với lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng. Ảnh của các tác phẩm hội họa, điêu khắc, các cổ vật được lưu trữ dưới dạng file ảnh sẽ đảm bảo chất lượng tốt hơn, thời gian lưu trữ lâu dài hơn và dễ dàng trao đổi, giới thiệu với công chúng. Ứng dụng tra cứu ảnh cổ vật trong bảo tàng giúp xác định hàng loạt thuộc tính của một cổ vật mới như niên đại, chất liệu, nguồn gốc, chủ sở hữu. Nếu có phần mềm tra cứu ảnh phù hợp, người ta có thể dễ dàng xác định xem mẫu cổ vật đó đã được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu nào hay chưa, có những loại cổ vật nào tương tự với nó trong kho tàng cổ vật của thế giới, và phần mềm có thể đưa ra ảnh của các loại cổ vật có màu sắc, hình dạng, hoa văn tương tự với cổ vật vừa tìm thấy. Những thông tin này sẽ giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia trong quá trình phân loại, kiểm chứng một cổ vật.

1.1. Vấn Đề Tra Cứu Ảnh Cổ Vật Trong Bối Cảnh Số Hóa

Vấn đề tra cứu ảnh số ngày càng được quan tâm do sự phát triển của thiết bị thu nhận, lưu trữ ảnh và sự bùng nổ của Internet. Người dùng có cơ hội truy cập và sử dụng các kho ảnh đa dạng, thuộc nhiều chủ đề và định dạng. Tuy nhiên, tìm kiếm một bức ảnh mong muốn trong bộ sưu tập lớn trở nên khó khăn. Tra cứu ảnh là tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu ảnh những ảnh thỏa mãn yêu cầu. Ví dụ, tìm ảnh về biển, phân loại ảnh theo chủ đề, hoặc tìm ảnh tương tự với ảnh mẫu. Vấn đề tra cứu ảnh được nhìn nhận rộng rãi và trở thành một lĩnh vực sôi động. Những kỹ thuật tra cứu ảnh số đã được nghiên cứu từ cuối những năm 70. Năm 1979, một hội thảo chuyên đề về 'Các kỹ thuật tổ chức cơ sở dữ liệu cho các ứng dụng đồ họa' được tổ chức ở Florence, Italia. Từ đó, khả năng ứng dụng cao của các kỹ thuật quản lý cơ sở dữ liệu ảnh đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.

1.2. Ứng Dụng Tra Cứu Ảnh Cổ Vật Trong Nghiên Cứu và Bảo Tồn

Bài toán tra cứu cổ vật xuất phát từ thực tế của ngành bảo tồn, bảo tàng. Khi sưu tầm được một cổ vật mới, cần xác định các thuộc tính như niên đại, chất liệu, nguồn gốc, và chủ sở hữu. Phần mềm tra cứu ảnh phù hợp có thể giúp xác định xem mẫu cổ vật đã được lưu trữ trong CSDL nào chưa, có những loại cổ vật nào tương tự trong kho tàng cổ vật thế giới. Phần mềm có thể đưa ra ảnh các loại cổ vật có màu sắc, hình dạng, hoa văn tương tự với cổ vật vừa tìm thấy. Thông tin này giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia trong quá trình phân loại, kiểm chứng cổ vật. Công nghệ thông tin trong nghiên cứu cổ vật giúp giải quyết bài toán này. Đây là động lực để tìm hiểu các phương pháp tra cứu ảnh số đang được ứng dụng trong thực tế và tìm kiếm phương pháp phù hợp nhất để giải quyết bài toán này.

II. Phương Pháp Tra Cứu Ảnh Cổ Vật Cách Tiếp Cận Hiện Đại

Các phương pháp tra cứu ảnh ban đầu dựa trên chú thích bằng lời (Text Based Image Retrieval - TBIR) cho ảnh. Mỗi ảnh được gán một chú thích phù hợp với nội dung hoặc đặc điểm, sau đó sử dụng kỹ thuật tìm kiếm văn bản để tìm ảnh. Phương pháp này đơn giản, nhưng không thể áp dụng cho CSDL ảnh lớn và kết quả mang tính chủ quan. Tra cứu ảnh theo nội dung (Content Based Image Retrieval - CBIR) ra đời khắc phục nhược điểm này. CBIR dựa trên sự tương tự của các đặc điểm trực quan như màu sắc, hình dạng, kết cấu để phân loại, sắp xếp ảnh. Tuy nhiên, các đặc điểm này vẫn ở mức thấp, chưa phản ánh nội dung ngữ nghĩa. Do đó, một số cách tiếp cận mới phát triển CBIR thành các phương pháp tra cứu ảnh theo đồ thị hay theo bản thể.

2.1. Tra Cứu Ảnh Cổ Vật Dựa Trên Văn Bản TBIR Ưu và Nhược Điểm

Các phương pháp tra cứu ảnh được sử dụng đầu tiên không dựa trên các đặc điểm trực quan của ảnh mà dựa trên các chú thích bằng lời của các bức ảnh, đầu tiên người ta gán cho mỗi ảnh một câu chú thích bằng lời (text) dựa trên một đặc điểm nào đó của ảnh, sau đó sử dụng các kỹ thuật tìm kiếm văn bản thông thường để tìm kiếm ảnh. Phương pháp tra cứu ảnh dựa trên văn bản như trên sử dụng các kỹ thuật cơ sở dữ liệu truyền thống để quản lý ảnh. Dựa vào các lời chú thích, người ta có thể tổ chức cơ sở dữ liệu ảnh bằng các phân lớp theo chủ đề hay theo ngữ nghĩa và việc duyệt cơ sở dữ liệu ảnh chỉ dựa trên các truy vấn kiểu Bool thông thường. Phương pháp tra cứu ảnh dựa trên chú thích như trên còn được gọi là tra cứu ảnh theo từ khoá. Do việc xây dựng các thuật toán có khả năng tự động sinh ra các chú thích cho một cơ sở dữ liệu ảnh có nhiều chủ đề là hết sức khó khăn nên nói chung các hệ thống tra cứu ảnh kiểu này vẫn yêu cầu phải chú thích ảnh một cách thủ công và trên thực tế việc chú thích ảnh như vậy tốn rất nhiều công sức và quan trọng hơn là nó mang tính chủ quan, bị ảnh hưởng của hoàn cảnh và thường là không đầy đủ. Vì vậy các hệ thống tra cứu ảnh dựa theo từ khoá không hỗ trợ được những kiểu truy vấn phụ thuộc tác vụ [1, 8, 9]

2.2. Tra Cứu Ảnh Cổ Vật Dựa Trên Nội Dung CBIR Kỹ Thuật và Ứng Dụng

Phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung ra đời đã khắc phục được những nhược điểm của phương pháp từ khoá. Nội dung chính của phương pháp này là dựa trên sự tương tự của những đặc điểm trực quan của ảnh như màu sắc, hình dạng, kết cấu hay bố cục không gian của ảnh để phân loại, sắp xếp các ảnh trong một cơ sở dữ liệu ảnh. Tuy nhiên những đặc điểm mà phương pháp này trích chọn để tra cứu vẫn là những đặc điểm ở mức thấp, chưa phản ánh được nội dung mang tính ngữ nghĩa của một đối tượng ảnh. Vì vậy người ta đã đưa ra một số cách tiếp cận mới phát triển phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung thành các phương pháp tra cứu ảnh theo đồ thị hay tra cứu ảnh theo bản thể.

III. Phân Tích CBIR Nền Tảng Cho Tra Cứu Ảnh Cổ Vật Hiệu Quả

CBIR sử dụng nội dung trực quan (màu sắc, hình dạng, kết cấu, phân bố không gian) để thể hiện và đánh chỉ số ảnh. Trong hệ thống CBIR điển hình, nội dung trực quan được trích chọn và mô tả bằng véc tơ đặc trưng nhiều chiều. Tập hợp các véc tơ đặc trưng của ảnh tạo thành cơ sở dữ liệu đặc trưng. Quá trình tra cứu diễn ra như sau: người dùng cung cấp ảnh mẫu hoặc hình phác thảo. Hệ thống chuyển chúng thành véc tơ đặc trưng và tính toán độ tương tự với véc tơ đặc trưng của ảnh trong CSDL. Cuối cùng, việc tra cứu được tiến hành với sự trợ giúp của sơ đồ đánh chỉ số. Một số hệ thống còn tích hợp xử lý phản hồi của người dùng để cải thiện kết quả.

3.1. Mô Hình Hệ Thống Tra Cứu Ảnh Theo Nội Dung CBIR

Trong mô hình này, người sử dụng sẽ tạo truy vấn bằng cách chọn một ảnh mẫu trong một cơ sở dữ liệu ảnh cho trước hoặc phác thảo một hình vẽ mô tả đối tượng ảnh cần tìm bằng cách sử dụng một giao diện đồ hoạ của hệ thống. Ảnh mẫu đó được đưa qua khối mô tả nội dung trực quan, trong đó người ta sử dụng một phương pháp mô tả nội dung trực quan nào đó để trích chọn một đặc điểm nội dung trực quan để xây dựng thành một véc tơ đặc trưng. Véc tơ đặc trưng của ảnh mẫu sẽ được so sánh với véc tơ đặc trưng tương ứng của các ảnh trong cơ sở dữ liệu ảnh. Kết quả của phép so sánh là một chỉ số đánh giá độ tương tự giữa ảnh mẫu và ảnh lấy ra để so sánh. Dựa vào chỉ số độ tương tự tính toán được ở trên, hệ thống sẽ sắp xếp các ảnh tìm được trong cơ sở dữ liệu ảnh theo một sơ đồ đánh chỉ số nào đó. Danh sách các ảnh tìm được (đã được sắp xếp) được đưa ra đầu ra của hệ thống.

3.2. Các Phương Pháp Mô Tả Nội Dung Ảnh Cổ Vật Màu Sắc Hình Dạng Kết Cấu

Nếu nhìn một cách tổng quát thì nội dung của một bức ảnh có thể bao gồm cả nội dung trực quan và nội dung ngữ nghĩa [1]. Nội dung trực quan của ảnh lại được phân làm hai loại là nội dung tổng quan và nội dung đặc tả. Nội dung tổng quan bao gồm màu sắc, kết cấu, hình dạng và các quan hệ không gian giữa các đối tượng ảnh hoặc giữa các vùng ảnh. Nội dung đặc tả thì tuỳ vào từng ứng dụng cụ thể, ví dụ với các ứng dụng tra cứu ảnh người thì mặt người hoặc con mắt là các nội dung đặc tả; với các ứng dụng tra cứu ảnh ô tô thì bánh xe là một nội dung đặc tả [1]. Nội dung ngữ nghĩa có thể phát hiện thông qua các chú thích hoặc sử dụng các phương pháp suy diễn từ nội dung trực quan. Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ tập trung vào việc mô tả nội dung trực quan tổng quan của ảnh. Một phương pháp mô tả nội dung trực quan được thiết kế tốt phải có tính bất biến đối với các biến đổi bất thường sinh ra trong quá trình xử lý ảnh (ví dụ như những biến đổi bất thường của độ sáng của cảnh vật). Tuy nhiên cũng cần phải chú ý tới sự cân bằng giữa tính bất biến và khả năng đáp ứng những thay đổi tuỳ ý của các đặc trưng trực quan của ảnh, bởi vì một hệ thống có tính bất biến lớn thì thường là không có tính nhạy cảm, mất khả năng phản ánh những thay đổi nhỏ nhưng rất quan trọng.

3.3. Nhận dạng ảnh cổ vật sử dụng trí tuệ nhân tạo

Khai thác sức mạnh của học sâu để xây dựng hệ thống nhận dạng ảnh cổ vật thông minh, sử dụng mạng nơ-ron tích chập (CNN) để tự động trích xuất đặc trưng ảnh cổ vật và đạt độ chính xác cao trong phân loại ảnh cổ vật. Hệ thống này giúp các nhà nghiên cứu và bảo tàng so sánh ảnh cổ vật một cách nhanh chóng và hiệu quả.

IV. Ứng Dụng và Phát Triển Chương Trình Tra Cứu Ảnh Cổ Vật

Nội dung của luận văn này giới thiệu cơ sở lý thuyết và ứng dụng chính của một số phương pháp tra cứu ảnh, tập trung vào phương pháp CBIR. Dựa trên đó, tiến hành thử nghiệm để xây dựng chương trình tra cứu cổ vật, cho phép đọc ảnh cổ vật mẫu và tìm kiếm ảnh tương tự trong tập hợp ảnh cho trước theo hình dạng và màu sắc. Chương trình sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn, bảo tàng và có thể cải tiến để áp dụng cho giáo dục, sở hữu trí tuệ, y học, khoa học hình sự. Ứng dụng tra cứu ảnh cổ vật trong khảo cổ học cũng là một hướng phát triển tiềm năng.

4.1. Xây Dựng Chương Trình QueryImage Tra Cứu Cổ Vật Theo Hình Dạng Màu Sắc

Một ứng dụng của phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung áp dụng vào bài toán tìm kiếm cổ vật; những hạn chế và khả năng mở rộng của chương trình ứng dụng đó.

4.2. Khả Năng Mở Rộng và Phát Triển Chương Trình Tra Cứu Ảnh Cổ Vật

Những hạn chế của chương trình và khả năng mở rộng.

V. Đánh Giá Hiệu Năng và Độ Chính Xác Hệ Thống Tra Cứu Ảnh

Việc đánh giá độ chính xác nhận dạng ảnh cổ vật là vô cùng quan trọng để đảm bảo chất lượng của hệ thống. Cần có những phương pháp và tiêu chí đánh giá khách quan, đồng thời thiết kế giao diện người dùng cho tra cứu ảnh cổ vật một cách trực quan và thân thiện để người dùng dễ dàng thao tác và thu được kết quả mong muốn.

5.1. Các Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Năng Hệ Thống Tra Cứu Ảnh Cổ Vật

Để có thể đưa ra được một sản phẩm hoàn thiện thì cần phải có các tiêu chí phù hợp

5.2. Tối Ưu Giao Diện Người Dùng UI UX Cho Tra Cứu Ảnh Cổ Vật

Tối ưu hóa trải nghiệm người dùng

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Luận Văn Thạc Sĩ CNTT Về Cổ Vật

Luận văn này đã trình bày tổng quan về các phương pháp tra cứu ảnh, đặc biệt là phương pháp CBIR, và ứng dụng tiềm năng trong lĩnh vực cổ vật. Kết quả nghiên cứu này mở ra nhiều hướng phát triển mới trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá các giá trị văn hóa lịch sử của cổ vật.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu Đóng Góp Của Luận Văn

Tổng quan về các phương pháp

6.2. Hướng Phát Triển Tiếp Theo Trong Nghiên Cứu Tra Cứu Ảnh Cổ Vật

Những hướng đi tiếp theo

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số kỹ thuật tra cứu ảnh và ứng dụng vào bài toán kiểm chứng cổ vật luận văn ths công nghệ thông tin 1 01 10

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về tra cứu ảnh sử dụng về sự thích hợp giữa các ảnh chỉ sử dụng các liên kết giữa các ảnh mà không dựa vào các đặc điểm của ảnh hay các lời chú thích. Như đã giới thiệu ở phần 1.1, kỹ thuật tra cứu ảnh theo nội dung dựa vào những đặc điểm mức thấp như màu sắc, kết cấu và hình dạng của đối tượng ảnh. Trong khi các phương pháp mô tả ảnh mức cao có khả năng mô tả gần gũi hơn với trực giác của người sử dụng nhưng việc phát triển những phương pháp đó mới dừng ở mức thử nghiệm và đòi hỏi rất nhiều quá trình xử lý phức tạp. Mặc dù việc mô tả ảnh bằng các đặc điểm mức thấp có thể thực hiện khá hiệu quả và đơn giản nhưng nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là không gần gũi với sự cảm nhận trực quan của hầu hết người sử dụng và do đó thường không đủ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.

Những ảnh mà ta cảm nhận được sự giống nhau bằng mắt thường nhưng đôi khi lại rất khác nhau nếu so sánh bằng các đặc điểm mức thấp. Động lực của phương pháp này dựa trên một thực tế là những ảnh thích hợp về mặt trực giác thường không có chung những đặc điểm mức thấp nhưng vẫn có sự tương tự về mặt khái niệm và về mặt ngữ cảnh đối với con người. Ví dụ, những ảnh chụp người trong bộ đồ tắm thường có màu sắc, hình dạng và kết cấu rất đa dạng nhưng về mặt khái niệm thì lại được con người cảm nhận là tương tự nhau. Vì vậy phương pháp tra cứu ảnh theo đồ thị được giới thiệu ở đây không dựa trên các đặc điểm ở mức thấp (trừ giai đoạn khởi tạo) mà dựa vào những sự liên kết có tính trực giác giữa các ảnh được thiết lập bởi người sử dụng bằng cách phản hồi thích hợp.

Mục tiêu của phương pháp này là xây dựng một sơ đồ để tích luỹ thông tin do những tương tác với người sử dụng theo cách đơn giản hơn phản hồi thích hợp và sử dụng những thông tin này để việc tra cứu ảnh cho những kết quả có ý nghĩa trực giác hơn [8, 9]. -18- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Tra cứu ảnh theo nội dung CHƯƠNG 2: TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG 2. GIỚI THIỆU Phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung (Content-Based Image Retrieval) sử dụng các nội dung trực quan của ảnh như màu sắc, hình dạng, kết cấu (texture) và phân bố không gian để thể hiện và đánh chỉ số các ảnh [1, 6, 7, 11]. Trong một hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung điển hình (hình vẽ 2.1) các nội dung trực quan của ảnh được trích chọn và mô tả bằng những véc tơ đặc trưng nhiều chiều.

Tập hợp các vec tơ đặc trưng của các ảnh trong một cơ sở dữ liệu ảnh tạo thành cơ sở dữ liệu đặc trưng. Quá trình tra cứu ảnh được tiến hành như sau: người sử dụng cung cấp cho hệ thống tra cứu một ảnh mẫu cụ thể hoặc hình vẽ phác thảo của đối tượng ảnh cần tìm. Sau đó hệ thống sẽ chuyển những mẫu này thành các véc tơ đặc trưng và tính toán sự giống nhau (hay độ tương tự) giữa véc tơ đặc trưng của ảnh mẫu và véc tơ đặc trưng của các ảnh trong cơ sở dữ liệu. Sau cùng việc tra cứu được tiến hành với sự trợ giúp của các sơ đồ đánh chỉ số.

Sử dụng sơ đồ đánh chỉ số là cách hiệu quả để tìm kiếm trong các cơ sở dữ liệu ảnh. Một số hệ thống tra cứu ảnh mới phát triển gần đây còn tích hợp cả chức năng xử lý phản hồi của người sử dụng để cải tiến các qui trình tra cứu để đưa ra những kết quả tra cứu tốt hơn. -19- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Tra cứu ảnh theo nội dung 2. MÔ HÌNH HỆ THỐNG TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG Phản hồi thích hợp Người sử dụng Mô tả Các Vector Tạo truy vấn Nội dung Đặc trưng Trực quan Đánh giá độ tương tự Cơ sở Dữ Mô tả Cơ sở Dữ liệu ảnh Nội dung liệu Đặc Trực quan trưng Tra cứu và Đánh chỉ số Kết quả tra Đầu ra cứu Hình 2.1: Mô hình hệ thống Tra cứu ảnh theo nội dung Trong mô hình này, người sử dụng sẽ tạo truy vấn bằng cách chọn một ảnh mẫu trong một cơ sở dữ liệu ảnh cho trước hoặc phác thảo một hình vẽ mô tả đối tượng ảnh cần tìm bằng cách sử dụng một giao diện đồ hoạ của hệ thống.

Ảnh mẫu đó được đưa qua khối mô tả nội dung trực quan, trong đó người ta sử dụng một phương pháp mô tả nội dung trực quan nào đó để trích chọn một đặc điểm nội dung trực quan để xây dựng thành một véc tơ đặc trưng. Véc tơ đặc trưng của ảnh mẫu sẽ được so sánh với véc tơ đặc trưng tương ứng của các ảnh trong cơ sở dữ liệu ảnh. Kết quả của phép so sánh là một chỉ số đánh giá độ tương tự giữa ảnh mẫu và ảnh lấy ra để so sánh. Dựa vào chỉ số độ tương tự tính toán được ở trên, hệ thống sẽ sắp xếp các ảnh tìm được trong cơ sở dữ liệu ảnh theo một sơ đồ đánh chỉ số nào đó.

Danh sách các ảnh tìm được (đã được sắp xếp) được đưa ra đầu ra của hệ thống. -20- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Tra cứu ảnh theo nội dung 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP MÔ TẢ NỘI DUNG ẢNH Nếu nhìn một cách tổng quát thì nội dung của một bức ảnh có thể bao gồm cả nội dung trực quan và nội dung ngữ nghĩa [1]. Nội dung trực quan của ảnh lại được phân làm hai loại là nội dung tổng quan và nội dung đặc tả.

Nội dung tổng quan bao gồm màu sắc, kết cấu, hình dạng và các quan hệ không gian giữa các đối tượng ảnh hoặc giữa các vùng ảnh. Nội dung đặc tả thì tuỳ vào từng ứng dụng cụ thể, ví dụ với các ứng dụng tra cứu ảnh người thì mặt người hoặc con mắt là các nội dung đặc tả; với các ứng dụng tra cứu ảnh ô tô thì bánh xe là một nội dung đặc tả [1]. Nội dung ngữ nghĩa có thể phát hiện thông qua các chú thích hoặc sử dụng các phương pháp suy diễn từ nội dung trực quan. Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ tập trung vào việc mô tả nội dung trực quan tổng quan của ảnh.

Một phương pháp mô tả nội dung trực quan được thiết kế tốt phải có tính bất biến đối với các biến đổi bất thường sinh ra trong quá trình xử lý ảnh (ví dụ như những biến đổi bất thường của độ sáng của cảnh vật). Tuy nhiên cũng cần phải chú ý tới sự cân bằng giữa tính bất biến và khả năng đáp ứng những thay đổi tuỳ ý của các đặc trưng trực quan của ảnh, bởi vì một hệ thống có tính bất biến lớn thì thường là không có tính nhạy cảm, mất khả năng phản ánh những thay đổi nhỏ nhưng rất quan trọng. Một phương pháp mô tả nội dung trực quan có thể là phương pháp toàn cục hoặc phương pháp cục bộ. Phương pháp mô tả nội dung toàn cục sử dụng các đặc trưng trực quan của toàn bộ bức ảnh còn phương pháp mô tả nội dung cục bộ lại sử dụng những đặc trưng trực quan của các vùng ảnh hoặc các đối tượng ảnh để mô tả nội dung của ảnh.

Để mô tả được nội dung cục bộ trước hết người ta phải chia ảnh thành các phần riêng biệt. Cách đơn giản nhất để phân chia ảnh là sử dụng một bộ phân hoạch -21- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Tra cứu ảnh theo nội dung chia ảnh thành các ô có kích thước và hình dạng giống nhau. Cách phân chia đơn giản như vậy không tạo ra được những vùng ảnh có ý nghĩa thực sự nhưng nó là cách đơn giản để biểu diễn nội dung toàn cục của ảnh với độ chính xác cao hơn. Một phương pháp phân chia tốt hơn là phân chia ảnh thành các vùng đồng nhất dựa vào các tiêu chí sử dụng các thuật toán phân vùng ảnh đã được nghiên cứu và áp dụng trong ngành thị giác máy tính.

Một cách phức tạp hơn để phân chia ảnh là thực hiện phân chia theo các đối tượng ảnh để tách ra các đối tượng ảnh có nghĩa thực sự (như quả bóng, cái ô tô hay con ngựa). [1, 10] Phần tiếp theo giới thiệu một số một số kỹ thuật đang được sử dụng rộng rãi để trích chọn các đặc điểm màu sắc, kết cấu, hình dạng và các quan hệ không gian của các đối tượng ảnh. Mô tả các đặc điểm màu sắc [1, 3, 6] Trên thực tế thì màu sắc được sử dụng nhiều nhất để mô tả nội dung trực quan của ảnh. Lý do là vì màu sắc của ảnh có tác động lớn đến nhận thức của con người về nội dung của ảnh hơn là các đặc điểm khác như hình dạng của các đối tượng ảnh, kết cấu của ảnh hay sự phân bố không gian của các đối tượng ảnh.

Màu sắc được biểu diễn thông qua một véc tơ 3 chiều sẽ có khả năng biểu diễn tốt hơn so với việc chỉ sử dụng giá trị độ xám của ảnh (1 chiều). Trước khi xem xét kỹ hơn về các phương pháp mô tả nội dung màu sắc, chúng ta cùng tìm hiểu sơ lược về các không gian màu. Không gian màu Mỗi điểm ảnh trên một bức ảnh có thể được biểu diễn bằng một điểm trong một không gian màu 3 chiều. Những không gian màu được sử dụng nhiều nhất -22- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Tra cứu ảnh theo nội dung trong các hệ thống tra cứu ảnh là RGB, CIE L*a*b, CIE L*u*v, HSV và không gian màu đối lập.

Người ta cũng chưa chỉ ra được rằng không gian màu nào được sử dụng tốt hơn cho việc tra cứu ảnh. Tuy nhiên tính chất quan trọng nhất để một không gian màu phù hợp để sử dụng trong một hệ thống tra cứu ảnh là tính đồng nhất. Một không gian màu được gọi là có tính đồng nhất nếu các cặp 2 màu tương tự nhau trong không gian màu thì cũng được con người cảm nhận như nhau. Nói một cách khác, khoảng cách đo được giữa hai màu bất kỳ phải có liên quan trực tiếp với độ tương tự sinh học giữa hai màu đó.

RGB là không gian màu được sử dụng phổ biến nhất để hiển thị ảnh. Không gian RGB bao gồm 3 thành phần màu là Đỏ (Red), Xanh lá cây (Green) và Xanh lam (Blue).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ