Chương 1 GIỚI THIỆU An Giang nằm ở hạ lưu lưu vực sông Mê Kông lại có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, do đó bị tác động đầy đủ của các quá trình thuỷ văn như ngập lụt, sụp lở đất bờ sông… Vào tháng 7 và tháng 8 hàng năm thường có các nhiễu động nhiệt đới hoạt động hàng ngày mưa to và dài ngày làm xuất hiện những trận lũ đầu mùa ở cả trung và hạ lưu sông Mê Kông. Mỗi khi lũ về là người dân phải đối mặt với những thiệt hại không chỉ về người mà còn về của, cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn do thời gian nhàn rỗi thì nhiều mà họ lại không có được việc làm. Cho nên để giúp cho người dân vẫn có thể sống hoà bình với lũ, vẫn có thu nhập ổn định trong mùa lũ thì việc tìm ra các mô hình nuôi trồng thích hợp là rất cần thiết. Từ lợi thế tỉnh An Giang có đa số người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa , sản phẩm phụ (rơm, rạ) từ quá trình trồng lúa là rất lớn cho nên việc đưa mô hình trồng nấm rơm trong mùa lũ sẽ tận dụng phế phẩm cây lúa sau thu hoạch, tạo ra sản phẩm mới, phù hợp với lao động nông thôn và khai thác lợi thế nhàn rỗi trong mùa nước nổi.
Do nấm rơm có thể trồng quanh năm, chi phí đầu tư thấp, yêu cầu kỹ thuật không phức tạp, thu hồi vốn nhanh nên những người dân nghèo ít vốn vẫn có thể áp dụng được. Có thể coi mô hình trồng nấm rơm là một trong những mô hình để xoá đói giảm nghèo. Do đó, đề tài “Tổng kết và theo dõi mô hình trồng nấm rơm trong mùa lũ năm 2004 tại xã Lương An Trà và Cô Tô” được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu qui trình kỹ thuật, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất nấm rơm trong mùa lũ để tổng kết và đánh giá hiệu quả của mô hình trong việc cải thiện thu nhập của người dân ở đây. 1 Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Nấm rơm là loại nấm khá quen thuộc của nhân dân các nước Châu Á, nhất là Đông Nam Á, chủ yếu là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Nấm thường mọc trên nguyên liệu phổ biến là rơm nên có tên chung là nấm rơm (Straw mushroom) (Trung tâm UNESCO, 2004). Nấm rơm (còn gọi là Nấm rạ, Thảo Cô) có tên khoa học là Volvariella volvacea (Bull.), thuộc họ Pluteaceae, bộ Agaricales, lớp phụ Hymenomycetidae, lớp Hymenomycetes, ngành phụ Basidiomycotina, ngành Nấm thật-Eumycota, giới Nấm-Mycota hay Fungi (Nguyễn Lân Dũng, 2003). Tình hình trồng nấm rơm trên thế giới Nấm rơm được trồng đầu tiên ở Trung Quốc sau đó được phổ biến sang nhiều quốc gia Đông Nam Á và Bắc Phi (Nguyễn Lân Dũng, 2002). Điều này về sau được xác nhận bởi các tác giả Philippines là Bammerito và Espino (1936) và tác giả Thái Lan là Jalaricharana (1950) (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002).
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm mỡ, nấm hương, nấm sò, nấm rơm là chủ yếu (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002). Nguyễn Lân Dũng (2003) cho biết sản lượng nấm rơm sản xuất trên toàn thế giới là 250.000 tấn (1995), riêng Trung Quốc đã là 150. Theo Nguyễn Hữu Đống và ctv (2002), thị trường tiêu thụ nấm lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, các nước Châu Âu. Hàng năm các nước này phải nhập khẩu từ Trung Quốc (nấm muối và nấm đóng hộp).
Tại các nước này, do khó khăn về nguồn nguyên liệu và giá công lao động rất đắc nên những người nuôi trồng nấm và kinh doanh mặt hàng này đang chuyển dịch sang các nước chậm phát triển để mua nguyên liệu (nấm muối) và đầu tư sản xuất, chế biến tại chỗ. Ở Châu Á , trồng nấm mang tính chất thủ công, năng suất không cao, nhưng sản xuất gia đình với số đông, nên tổng sản lượng rất lớn (Lê Duy Thắng, 1997). Các nước ở khu vực Châu Á như Đài Loan, Trung Quốc , Thái Lan,…nghề trồng nấm cũng phát triển rất mạnh mẽ, một số loại nấm ăn được nuôi trồng khá phổ biến, đó là nấm mỡ (Agaricus bisporus), nấm hương 1 (Lentinus edodes), nấm rơm (Volvariella volvacea),…sản phẩm nấm được tiêu thụ chủ yếu ở dạng tươi, đóng hộp, sấy khô và làm thuốc bổ (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002). Nguyễn Lân Dũng và ctv (2002) cho rằng vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghệ thực phẩm thực thụ.
Tình hình sản xuất nấm rơm và những thuận lợi của nghề trồng nấm ở Việt Nam 2. Tình hình sản xuất nấm rơm Theo Việt Chương (2003) thì vào khoảng năm 1963, tại miền Nam nước ta, phong trào trồng nấm rơm bắt đầu nở rộ khi meo giống nhân tạo ra đời, nhập meo nấm rơm ở Đài Loan, Hồng Kông. Mặt khác, Nguyễn Hữu Đống và ctv (2002) cũng cho biết chỉ hơn 10 năm trở lại đây, trồng nấm mới được xem như là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế. Các loại nấm ăn như: Nấm sò, nấm rơm, nấm mộc nhĩ,… được trồng ngày càng tăng (đối với các tỉnh phía Bắc) chủ yếu tiêu dùng nội địa.
Ước tính trung bình một năm đạt khoảng 100 tấn nấm tươi. Theo Nguyễn Lân Dũng (2001), ở miền Nam nước có thể trồng quanh năm các loại nấm rơm (Volvariella volvacea), nhiều loại nấm sò hay còn gọi là nấm Bào ngư (Pleurotus spp.), mộc nhĩ hay còn gọi là nấm mèo (Auricularia spp. Và từ năm 1989 đến nay nhân dân các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long đã tiếp thu kỹ thuật và trồng nấm rơm rộng rãi (Trần Đình Đằng và Nguyễn Hữu Ngoan, 2002). Bên cạnh đó, Nguyễn Hữu Đống và ctv (2002) cho biết sản lượng nấm rơm tăng theo cấp số nhân: từ trước năm 1990 mới đạt con số vài trăm tấn/năm đến nay đạt trên 40.
Các tỉnh phía Nam đã và đang xuất khẩu nấm rơm muối đóng hộp với số lượng hàng ngàn tấn/năm sang thị trường Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan. Những thuận lợi trong việc phát triển nghề trồng nấm ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có đủ điều kiện để phát triển mạnh nghề trồng nấm, do: - Điều kiện thiên nhiên ưu đãi Các tỉnh phía Nam do sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng và tháng lạnh không lớn lắm nên có thể trồng nấm quanh năm, lý tưởng nhất là vào các tháng mùa khô từ tháng 11 đến tháng 6 dương lịch (Nguyễn Hữu Đống, 2003; Việt Chương, 2001). - Nguồn nguyên liệu rẻ và dồi dào Nguyên liệu trồng nấm chủ yếu là các phế liệu nông, lâm nghiệp, thường rất nhiều ở các địa phương, vừa giải quyết về mặt môi trường đồng thời tạo nên sản phẩm mới. Phế phẩm sau khi trồng nấm còn có thể sử dụng cho trồng trọt (Trung tâm UNESCO, 2004).
- Giải quyết lao động Ở nước ta có lực lượng lao động nhàn rỗi khá đông đảo nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, tính trung bình 1 lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30 - 40% quỹ thời gian, chưa kể đến việc mọi lao động phụ đều có thể tham gia trồng nấm được (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002 – 2003). Do vậy trồng nấm vừa tạo được công ăn việc làm vừa mang lại nguồn thu nhập cho người dân. - Đầu tư thấp, vòng quay nhanh Ở nước ta còn nhiều hộ nông dân nghèo hoặc hoàn cảnh khó khăn, không thể đầu tư vốn để nuôi trồng những cây con đắt tiền, quay vòng vốn lâu,… trong khi đó vốn đầu tư cho sản xuất nấm rất ít so với các ngành sản xuất khác (Nguyễn Duy Điềm và Huỳnh Thị Dung, 2003). Chu kỳ nuôi trồng nấm thường rất ngắn (nấm rơm 20-25 ngày) khi gặp thiên tai hoặc biến động của thị trường, vẫn kịp dừng sản xuất hoặc chuyển hướng canh tác, điều này không đơn giản ở các loài cây trồng khác (Trung tâm UNESCO, 2004).
1 - Giá trị kinh tế cao Nấm rơm muối có giá bán trung bình từ 1.300 đôla Mỹ/tấn. Giá nấm rơm tươi tương đối ổn định và khá cao, trung bình 5.000 đồng/kg, nếu vào ngày chay giá bán có thể tăng hơn. - Tạo thêm nguồn thực phẩm Việc trồng ra nấm để bán hoặc xuất khẩu sẽ phát sinh ra lượng nấm thừa. Lượng nấm này thường không nhỏ.
Đây là nguồn thực phẩm rất quý, không những bổ sung cho khẩu phần ăn hàng ngày mà còn góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho mọi người. Tóm lại, trồng nấm vừa tăng thu nhập cho xã hội đồng thời giải quyết nguồn thực phẩm đang còn thiếu ở nước ta (Trung tâm UNESCO, 2004). Giá trị dinh dưỡng, điều kiện ngoại cảnh và sự phát triển của nấm rơm 2. Giá trị dinh dưỡng Nấm rơm là một trong những loại thực phẩm được nhiều người yêu thích, nấm có thể chế biến riêng hoặc có thể phối hợp với các món ăn, các bài thuốc và được xem như là một loại “rau sạch”, “thịt sạch” có tỷ lệ protein cao và các acid amin (trong đó có nhiều loại axit amin không thay thế được), không làm tăng lượng cholesterol trong máu như nhiều loại thịt động vật, ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm rơm có thành phần chất xơ tương đối cao và thành phần lipit thấp nên có khả năng phòng trừ bệnh về huyết áp, chống bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, chữa bệnh đường ruột,…Tuy nhiên, nếu nấm rơm quá già, chế biến không kỹ lưỡng, khi ăn số lượng nhiều dễ dẫn đến ngộ độc (Nguyễn Hữu Đống và ctv, 2002).
Hàm lượng protein Theo Nguyễn Lân Dũng (2003), nấm rơm không chỉ là loại thức ăn ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao, tính theo trọng lượng tươi nấm rơm chứa 2,66-5,05% protein, trong protein này có đầy đủ 19 loại axit amin. Trong 19 loại axit amin này có 8 loại axit amin không thay thế (nghĩa là cơ thể người và động vật không tự tổng hợp lấy được). Các axit amin không thay 1 thế chiếm đến 38,2% trong tổng lượng axit amin ở nấm rơm, tỷ lệ này cao hơn so với ở thịt bò, thịt lợn, sữa bò, trứng gà,. Hàm lượng chất béo Lượng chất béo (lipid) trong nấm rơm là vào khoảng 3% (tính theo trọng lượng khô), loại chất béo bão hoà chiếm 41,2%, còn chất béo chưa bão hoà chiếm 58,8% (Nguyễn Lân Dũng, 2003).
Hàm lượng đường Ở nấm rơm, lượng đường tăng lên trong giai đoạn phát triển từ nút sang kéo dài, nhưng lại giảm khi trưởng thành, hàm lượng đường trong nấm rơm chiếm tỷ lệ khoảng 3-28% trọng lượng tươi, dự trữ ở dạng Glucogen (Lê Duy Thắng, 1997; Nguyễn Lân Dũng, 2003). Hàm lượng chất khoáng Tương tự hầu hết các loại rau cải, nấm là nguồn khoáng rất tốt.