CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đặc điểm cấu trúc và nguồn gốc tự nhiên của auron 1. Cấu trúc và trạng thái tồn tại trong tự nhiên Auron là một phân nhóm nhỏ của flavonoid.23 Khung cấu trúc cơ bản của auron gồm hệ thống hai vòng thơm: dị vòng benzofuranon (vòng A và C) gắn với vòng phenyl (vòng B) bởi liên kết đôi C=C ngoại vòng (Hình 1.24,25 Auron có hai cấu hình (E) và (Z) nhưng chủ yếu tồn tại ở dạng cấu hình (Z) bền vững.1,26 Benzofuranon 4 O 3 5 2 A C Phenyl 6 O 1' 6' 7 1 2' B 5' 3' 4' Auron Hình 1. Cấu trúc một số phân nhóm của flavonoid Năm 1943, auron đầu tiên được phân lập và xác định cấu trúc từ hoa của cây Coreopsis grandiflora.27 Auron chủ yếu tập trung trong hoa, lá và cũng được tìm thấy ở các bộ phận khác như quả, hạt hay vỏ cây của một số họ thực vật bậc cao như Anacardiaceae, Asteraceae, Gesneriaceae, Fabaceae, Oxalidaceae, Plumbaginaceae, Rubiaceae, Rhamnaceae, Rosaceae, Cactaceae, Moraceae hoặc Plantaginaceae.1,28,29 So với các phân nhóm khác của flavonoid, auron tồn tại trong tự nhiên với số lượng và cấu trúc kém đa dạng.
Theo một báo cáo năm 2017, chỉ có hơn 122 hợp chất auron được phân lập từ thực vật và chủ yếu là các glycosid, auronol hay dimer.1 Trong tự nhiên, các vị trí 4, 6, 7, 3', 4' trong cấu trúc của auron thường gắn với các nhóm thế; chủ yếu là hydroxy, methoxy hay glycosid (Hình 1. Thế ở các vị trí 5 và 2' kém phổ biến hơn. Cấu trúc một số auron tự nhiên 1. Tính chất lý hóa Auron là những dẫn chất có màu vàng đến cam.
Phần lớn auron có bốn cực đại hấp thụ trong vùng tử ngoại-khả kiến (UV-Vis) và hai trong số chúng được tìm thấy ở bước sóng 370-430 nm.31 Auron có thể tham gia vào phản ứng khử, epoxy hóa auron với hydrogen peroxid và kali hydroxid, tổng hợp các dẫn chất hydrocarbon thơm đa vòng, phản ứng mở rộng vòng, các phản ứng liên quan đến alkoxy phenolic và hydroxy trên auron. Hoạt tính sinh học của auron Mặc dù tồn tại trong tự nhiên khá ít nhưng auron được báo cáo với nhiều hoạt tính sinh học tiềm năng. Hoạt tính sinh học của các dẫn chất auron tự nhiên và tổng hợp gồm kháng khuẩn,2,18,19 kháng nấm,3,32 chống oxy hóa,21,22,33,34 độc tế bào,5,35-37 ức chế enzym tyrosinase,6,7,38 ức chế enzym acetylcholinesterase,39,40 ức chế enzym lypase tụy,14 hay ức chế enzym α-glucosidase. Hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm Auron có hoạt tính kháng khuẩn với phổ khá rộng, được báo cáo ức chế các vi khuẩn Gram (+) như Bacillus subtilis, Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus, Streptococcus pneumoniae, Gram (–) như Pseudomonas aeruginosa và cả các chủng đề kháng như MRSA (Methicillin-resistant Staphylococcus aureus).2,18,19 Năm 2003, Thomas và cộng sự đã thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của một loạt dẫn chất thế (Z)-2-benzyliden-6,7-dihydroxybenzofuran-3(2H)-on dựa trên khả năng ức chế chorismat synthase ở vi khuẩn Streptococcus pneumoniae (SpCS) – một enzym cần thiết cho quá trình tổng hợp các acid amin thơm của vi khuẩn.18 Sự kết hợp nhóm thế hydroxy ở vị trí ortho và alkoxy ở vị trí para trên vòng B cho kết quả tốt.
Tăng chiều dài chuỗi alkoxy từ 1 đến 5 carbon làm tăng dần hoạt tính nhưng hoạt. 5 tính giảm với dây dài 6 carbon.3) thể hiện hoạt tính ức chế SpCS tốt nhất với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) là 0,22 µM. Năm 2020, dẫn chất auron với vòng B là cấu trúc quinolin 2 được báo cáo có hoạt tính kháng khuẩn tương đối tốt với MIC là 20,0 µg/mL trên B.41 Các auron với vòng B là 1-methyl-5-nitro-imidazol và 4-nitroimidazol cũng được tổng hợp và thử hoạt tính kháng khuẩn trên một số chủng Gram (+) và Gram (–).19 Theo đó, dẫn chất 1-methyl-5-nitro-imidazoyl với hai nhóm thế methoxy ở vị trí 6, 7 trên vòng A 3 có MIC (µg/mL) thấp hơn chất đối chiếu amoxicillin trên MRSA, B. Hamza Olleik và cộng sự (2019) đã tổng hợp và thử hoạt tính chống lại MRSA và P.
aeruginosa của 34 dẫn chất auron.2 Kết quả cho thấy hoạt tính kháng khuẩn chọn lọc trên vi khuẩn Gram (+). Auron với hai nhóm thế hydroxy ở vị trí 4 và 6 trên vòng A có hoạt tính chống lại MRSA tốt hơn so với các auron chỉ có hydroxy ở một trong các vị trí 4, 6, 7 hoặc không có nhóm hydroxy nào với MIC từ 7,8 đến 250 µM. Một số auron có hoạt tính kháng khuẩn Năm 2022, nhóm nghiên cứu của tác giả Võ Thị Cẩm Vân báo cáo một số dẫn chất 4,6-dihydroxyauron có khả năng kháng khuẩn đáng chú ý như dẫn chất thế methylthio trên vòng B 4 với MIC trên cả hai chủng vi khuẩn MSSA và MRSA đều. 6 là 64 µg/mL và dẫn chất auron 5 ức chế S.
faecalis tốt hơn chất đối chiếu amikacin 8 lần, đồng thời ức chế MSSA và MRSA với MIC là 16 µg/mL (Hình 1.17 Năm 2015, Yan-xia Song và cộng sự đã phân lập và xác định cấu trúc của một auron glycosid là (Z)-7,4'-dimethoxy-6-hydroxy-auron-4-O-β-glucopyranosid. Hợp chất này thể hiện hoạt tính kháng nấm đối với Candida sp. Hiệu lực kháng nấm tương đương amphotericin B và tốt hơn nhiều so với fluconazol.32 Một nghiên cứu của Sutton và cộng sự (2017) đã thực hiện đánh giá hoạt tính kháng nấm in vitro của các dẫn chất auron.3 Trong số các hợp chất thử nghiệm, hai auron 6 và 7 (Hình 1.4) thể hiện hoạt tính kháng nấm tương đối tốt với IC50 đều thấp hơn 20 µM trên cả ba chủng Candida. Vị trí nhóm thế được cho là quan trọng đối với hoạt tính kháng nấm.
Nếu thay đổi vị trí nhóm hydroxy và nhóm methoxy hoặc thay nhóm hydroxy thành nhóm methoxy trên vòng B hoặc giảm số lượng nhóm hydroxy trên vòng A đều làm giảm hoạt tính kháng nấm của auron 6. Trường hợp vòng B là dị vòng pyridin với nitơ ở vị trí số 2 thì có hoạt tính tốt nhất. Các dị vòng chứa hai nitơ hoặc dị tố khác như lưu huỳnh đều làm giảm hoạt tính. Một số auron có hoạt tính kháng nấm 1.
Hoạt tính chống oxy hóa Sự gia tăng quá mức gốc tự do gây ra hiện tượng “stress oxy hóa”, đây là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của các bệnh lý như ung thư, rối loạn miễn dịch, lão hóa, đục thủy tinh thể, viêm khớp dạng thấp, bệnh tim mạch và thoái hóa thần kinh.42 Hợp chất flavonoid, đặc biệt là các cấu trúc mang nhiều nhóm hydroxy có khả năng đánh bắt gốc tự do, thể hiện hoạt tính chống oxy hoá tốt.43 Vòng B với nhóm. 7 thế hydroxy ở vị trí 4' được xem là vị trí tấn công đầu tiên của các gốc tự do để tạo gốc tự do phenoxy bền vững hơn.1 Năm 2000, 6 hợp chất auron được phân lập từ dịch chiết ethyl acetat của cây Cotinus coggygria đã được đánh giá hoạt tính chống oxy hóa bằng thử nghiệm đánh bắt DPPH.22 Kết quả cho thấy các hợp chất này đều có giá trị IC50 thấp hơn chất đối chiếu là vitamin C (acid ascorbic) và 2(3)-tert-butyl-4-hydroxyanisol (BHA). Trong đó, disulfuretin có tiềm năng nhất với IC50 = 9,7 µg/mL. Năm 2013, Talat Makhmoor và cộng sự đã phát hiện hai dẫn chất auron trong Tảo nâu Spatoglossum variabile.
Nghiên cứu đánh giá khả năng chống oxy hóa thông qua thử nghiệm đánh bắt gốc tự do DPPH và superoxid cho thấy hai auron 8 và 9 có khả năng chống oxy hóa tương đối tốt với IC50 lần lượt là 54 µM và 92 µM (Hình 1.33 Năm 2014, (Z)-2′,5′-dihydroxy-6-methoxyauron được phân lập từ dịch chiết methanol của rễ cây Astragalus englerianus thể hiện hoạt tính tốt với giá trị IC50 = 35,9 ± 1,1 µM trong thử nghiệm đánh bắt DPPH. Một số auron có khả năng chống oxy hóa tốt. 8 Bên cạnh các auron tự nhiên, auron tổng hợp cũng được khảo sát hoạt tính chống oxy hóa. Daisuke Nakabo và cộng sự (2018) đã tổng hợp và đánh giá hoạt tính chống oxy hóa bằng phương pháp đánh bắt DPPH của 12 dẫn chất auron.
Kết quả cho thấy nhóm hydroxy ở vị trí 3' và 4' trên vòng B có ý nghĩa quan trọng. Khi thay bằng methoxy, hoạt tính giảm đáng kể. Trong khi đó, nhóm thế hydroxy trên vòng A ít ảnh hưởng đến hoạt tính chống oxy hóa hơn. Hai auron 10 và 11 (Hình 1.5) được báo cáo có %I cao nhất lần lượt là 85,8% và 84,2% ở nồng độ 40 µM.
Hoạt tính ức chế enzym lipase tụy Lipase tụy đóng vai trò quan trọng trong quá trình thủy phân chất béo từ thức ăn thành monoglycerid và acid béo tự do mà cơ thể có thể hấp thu được. Ức chế lipase tụy giúp hạn chế sự hấp thu chất béo, làm giảm cân và hạ lipid máu.10 Theo một báo cáo tổng quan của Tian-Tian Liu và cộng sự (2020), khung cấu trúc flavonoid được xem là cần thiết cho hoạt động ức chế lipase tụy.10 Liên kết đôi giữa C2 = C3 (vòng C) có vai trò quyết định đối với sự tương tác giữa flavonoid và lipase.44 Quercetin là một flavonoid phổ biến trong tự nhiên, thuộc phân nhóm flavonol.45 Tác động ức chế lipase tụy in vitro của quercetin đã được báo cáo với IC50 là 70 µg/mL. Ở mô hình thực nghiệm trên chuột, quercetin làm giảm đáng kể sự hấp thu và tăng bài tiết chất béo ở liều 5-10 mg/kg. Khả năng gắn kết của quercetin với lipase tụy cũng được chứng minh thông qua thử nghiệm tắt huỳnh quang và mô hình docking phân tử.46 Cùng với flavonol, các phân nhóm khác của flavonoid như chalcon47-49 và flavon50 đã được nghiên cứu rộng rãi.
Tuy nhiên, hiện có ít thử nghiệm đánh giá hoạt tính ức chế lipase tụy của auron được báo cáo. Năm 2019, nhóm nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thụy Việt Phương đã tiến hành khảo sát in silico trên 82 dẫn chất auron và nhận thấy (Z)-5-cloro-2-(4-(2-(4- methoxyphenyl)-2-oxoethoxy)benzyliden)benzofuran-3(2H)-on 12 (Hình 1.6) có khả năng gắn kết tốt nhất với lipase tụy người với điểm số docking là −10,6 kcal.mol −1, đồng thời hợp chất này cũng liên kết tốt và ổn định trong khoang xúc tác lipase tụy thông qua kết quả mô phỏng động lực học phân tử.14 Dựa vào kết quả trên, Lê Thị Mỹ Chi (2020) đã tổng hợp và thử hoạt tính ức chế lipase tụy in vitro của một số dẫn. 9 chất auron với vòng benzyliden thế. 9 trên 10 hợp chất được khảo sát có hoạt tính, trong đó dẫn chất 13 (Hình 1.6) có khả năng ức chế enzym lipase tụy tốt nhất với phần trăm ức chế là 60,95% ở nồng độ 0,05 mg/mL.
Một số auron có hoạt tính ức chế enzym lipase tụy 1. Vai trò của dây nối alkoxy và alkylamin với hoạt tính sinh học Ngoài khung cấu trúc cơ bản là benzofuranon, hoạt tính sinh học của auron còn bị ảnh hưởng bởi các nhóm thế trên vòng A và B. Bên cạnh các nhóm thế thường gặp như hydroxy, halogen hay thiol, nhóm thế alkoxy và alkylamin mạch dài cũng được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây.