Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ Chương này cung cấp cho người đọc các vụ việc tiêu biểu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản của luật quốc tế, trong đó chia thành 03 nhóm vụ việc: Nhóm thứ nhất bao gồm các vụ việc làm rõ về bản chất của quan hệ quốc tế, đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế, việc hình thành nghĩa vụ pháp lý ràng buộc trong trường hợp những tuyên bố đơn phương mà quốc gia đưa ra thể hiện rõ ý định là sẽ có giá trị ràng buộc; và việc xác định thẩm quyền của Tòa án Công lý Quốc tế dựa trên cơ sở ý chí của chủ thể đang tranh chấp. Nhóm thứ hai cung cấp cho người đọc các vụ việc liên quan đến cơ sở xác định các tiêu chí cấu thành quốc gia, chủ thể cơ bản và chủ yếu của luật quốc tế; các vụ việc liên quan đến bản chất pháp lý, đặc điểm và quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể phái sinh của luật quốc tế bên cạnh các quốc gia. Nhóm thứ ba bao gồm các vụ việc về bản chất và nguyên tắc bảo đảm cho sự vận hành của hệ thống pháp luật điều chỉnh 11 quan hệ giữa các quốc gia, trước tiên là nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế; đồng thời là các nguyên tắc về quyền tự quyết của các dân tộc trong bối cảnh của tiến trình phi thực dân hóa; nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và vấn đề trách nhiệm pháp luật quốc tế đặt ra khi vi phạm những nguyên tắc cơ bản này. TỔNG QUAN VỀ LUẬT QUỐC TẾ 1.
Vụ Các giàn khoan dầu khí (Iran kiện Hoa Kỳ), phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế năm 20031 Iran đã khởi kiện Hoa Kỳ tại Tòa án Công lý Quốc tế vì cho rằng các tàu chiến của hải quân Hoa Kỳ liên quan đến cuộc tấn công và phá hủy các giàn khoan dầu, cơ sở lọc dầu ngoài khơi của nước này vào ngày 19/10/1987 và ngày 18/4/1988. Cụ thể: Ngày 19/10/1987, 4 tàu khu trục tên lửa dẫn đường Young, Hoel, Kidd, and Leftwich đã nã pháo hạng nặng vào các giàn khoan dầu của Iran nằm bên bờ Vịnh Ba Tư là Resalat and Rashadat. Kết quả là cả hai giàn khoan này đều bị hư hại hoàn toàn dẫn đến phải chấm dứt việc khai thác dầu ngoài khơi. Phía Hoa Kỳ lập luận rằng, cuộc tấn công là một biện pháp ứng phó đối với Iran vì Iran đã tấn công tàu chở dầu của Côoét có tên là Sea Isle City trên vùng Vịnh Ba Tư.
Tiếp theo, sự kiện ngày 18/4/1988 liên quan 1. Nguồn: Case Concerning Oil Platforms (Islamic Republic of Iran v. United States of America), ICJ Judgment of 6 November 2003, https://www.org/files/case-related/90/090-20031106-JUD-01- 00-EN. 12 đến cuộc tấn công của Hoa Kỳ đối với các giàn khoan dầu khí của Iran có tên là Nasr và Salman nhằm đáp trả lại hành vi của Iran khi đánh mìn tấn công tàu chiến Hoa Kỳ là USS Samuel B.
Hoa Kỳ lập luận bãi mìn là của Iran, song dựa trên những chứng cứ không được rõ ràng và phía Iran lập luận rằng khẳng định của Hoa Kỳ là thiếu cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, hai giàn khoan này đã bị hư hại nặng, dẫn đến việc cả hai giàn khoan không thể sử dụng được. Trong khi đó, phía Hoa Kỳ cho rằng, việc tấn công các giàn khoan dầu của Iran được thực hiện nhằm mục đích tự vệ và cần thiết để bảo vệ đối với các lợi ích an ninh thiết yếu. Trong vụ việc này, các vấn đề đặt ra là: Thứ nhất, Tòa án Công lý Quốc tế có thẩm quyền (về không gian, thời gian và vấn đề) phân xử đơn khởi kiện của Iran chống lại Hoa Kỳ hay không? Thứ hai, hành vi tấn công, phá hủy các giàn khoan dầu và cơ sở sản xuất dầu mỏ ngoài khơi của hải quân Hoa Kỳ có vi phạm Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác kinh tế và Lãnh sự năm 1955 hay không? Thứ ba, liệu rằng những lập luận của Hoa Kỳ cho các hành động tấn công, hủy hoại các giàn khoan dầu và cơ sở sản xuất dầu mỏ của Iran được bào chữa theo những quy tắc nào của luật quốc tế? Tòa khẳng định rằng, căn cứ đoạn 2 Điều XXI, Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác kinh tế và Lãnh sự năm 1955 giữa Hoa Kỳ và Iran, Tòa có thẩm quyền giải quyết những tuyên bố của Iran đệ trình theo đoạn 1 Điều X Hiệp ước.
Hiệp ước nêu rõ: Việc giải thích và áp dụng Hiệp ước sẽ được đưa ra trước 13 Tòa án Công lý Quốc tế nếu các bên không có thoả thuận khác để giải quyết thông qua con đường ngoại giao hoặc bởi một số biện pháp hòa bình khác. Tòa cho rằng, các cuộc tấn công của hải quân Hoa Kỳ không vi phạm quyền của Iran theo khoản 1 Điều X của Hiệp ước nêu trên. Ngoài ra, Sắc lệnh số 12613 giữa Iran và Hoa Kỳ được coi là một sự cấm vận đình chỉ quan hệ thương mại. Do đó, Iran không thể yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường cho các cuộc tấn công.
Ngoài ra, Tòa chỉ rõ, các cuộc tấn công mà Iran bị cáo buộc không phải là nguyên nhân hợp pháp để Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp đáp trả một cách không cân xứng, thông qua các cuộc tấn công giàn khoan dầu khí của Iran. Trong khi Hoa Kỳ lập luận rằng, quyền tự vệ được rút ra từ các quy tắc tập quán quốc tế và tiền lệ được quy định trong vụ kiện “Các hoạt động quân sự và bán quân sự chống lại Nicaragoa”, thì trên thực tế, lập luận này đã bị Tòa bác bỏ và không thể sử dụng để biện minh cho sự phản ứng của Hoa Kỳ. Đánh giá: Mặc dù còn có những điểm gây tranh cãi như bản chất của việc Hoa Kỳ sử dụng vũ lực để tấn công các giàn khoan có thể coi là hành vi sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, tuy nhiên, vụ việc đã góp phần làm rõ khái niệm, điều kiện và cơ sở pháp lý của việc áp dụng biện pháp tự vệ và đáp trả trong trường hợp có xung đột vũ trang. Trong chừng mực nào đó, cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực - nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế cần được tôn trọng.
Vụ Các vụ thử hạt nhân (Niu Dilân kiện Pháp), phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế năm 19741 Ngày 09/5/1973, trong một đơn kiện, Niu Dilân đệ trình ra Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp liên quan đến vấn đề tính hợp pháp của các vụ thử hạt nhân trong khí quyển mà Pháp tiến hành ở khu vực Nam Thái Bình Dương. Chính phủ Niu Dilân yêu cầu Tòa tuyên bố rằng, các cuộc thử nghiệm hạt nhân do Pháp tiến hành ở khu vực Nam Thái Bình Dương dẫn đến hậu quả phát tán phóng xạ là vi phạm các quyền của Niu Dilân theo luật pháp quốc tế. Cơ sở pháp lý cho lập luận của Niu Dilân là Văn kiện chung về Giải quyết Hòa bình các tranh chấp quốc tế ký tại Giơnevơ năm 1928 cũng như các Điều 36 và 37 Quy chế Tòa án Quốc tế. Chính phủ Pháp cho rằng, Tòa “rõ ràng là không có thẩm quyền” trong trường hợp này và sẽ không chấp nhận thẩm quyền của Tòa.
Hơn nữa, Pháp yêu cầu loại bỏ vụ việc ra khỏi danh sách các vụ việc mà Tòa xem xét. Trong bài biện hộ (memorial) của mình được trình bày tại phiên điều trần công khai, Niu Dilân khẳng định Tòa có thẩm quyền. Trong khi đó, phía Pháp đã không nộp bài biện hộ và cũng không có đại diện tại phiên tranh tụng. Tòa sau đó đã bác bỏ yêu cầu của Pháp, đồng thời khẳng định thẩm quyền của mình trong vụ kiện này.
Nguồn: Nuclear Tests case (New Zealand v. France), ICJ Judgment of 20 December 1974, https://www.org/files/case- related/59/059-19741220-JUD-01-00-EN. Xem thêm: Nuclear Tests case (Australia v. France), ICJ Judgment of 20 December 1974, https://www.org/files/case-related/58/058-19741220-JUD-01- 00-EN.
15 Khi vụ kiện đang được Tòa phân xử vào năm 1974, thì Pháp đã đưa ra nhiều tuyên bố công khai trong năm đó thể hiện nước này không có kế hoạch tiếp tục tổ chức thử hạt nhân ở khu vực Nam Thái Bình Dương. Tòa đã ra phán quyết cho rằng, tranh chấp không còn tồn tại vào thời điểm phiên điều trần giữa Niu Dilân và Pháp. Tòa công nhận các tuyên bố của Văn phòng Chủ tịch nước Cộng hòa Pháp và các quan chức khác của Chính phủ kể từ khi vụ việc được khởi xướng thể hiện sự chuyển tải một thông điệp của Pháp về việc chấm dứt thử nghiệm hạt nhân sau khi hoàn thành các cuộc thử vào năm 1974 của nước này. Những tuyên bố công khai có hiệu lực tạo ra một số nghĩa vụ pháp lý cho Chính phủ Pháp, đặc tính ràng buộc của những tuyên bố này dựa trên tinh thần thiện chí và các quốc gia có lợi ích liên quan có quyền yêu cầu nghĩa vụ đó phải được tôn trọng.
Vì vậy, với tỷ lệ 9 phiếu thuận và 6 phiếu chống, Tòa tuyên bố yêu cầu của Niu Dilân về việc chấm dứt thử nghiệm hạt nhân trong khí quyển do Pháp tiến hành đã đạt được và không còn tồn tại tranh chấp mà Tòa án có thể thụ lý phân xử. Mặc dù không sử dụng thuật ngữ “estoppel”1, Tòa án Công lý Quốc tế vẫn ràng buộc Pháp với tuyên bố đơn phương của nước này rằng các cuộc thử hạt nhân trong khí quyển sẽ sớm chấm dứt. Trong vụ việc này, Ôxtrâylia cũng đã khởi kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế chống lại các vụ thử hạt nhân 1. Estoppel là nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hành động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hành động trước kia.
16 của Pháp tại Nam Thái Bình Dương. Trước khi vụ việc được đưa ra phân xử, Pháp đã tuyên bố rằng các vụ thử hạt nhân mà “hiện họ đang chuẩn bị tiến hành sẽ là những vụ thử cuối cùng”. Tòa án Công lý Quốc tế lập luận, Tuyên bố này của Pháp đã thể hiện ý định ràng buộc và có giá trị pháp lý.