Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quyền sống là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cơ bản nhất của con người, được ghi nhận và bảo vệ trong các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng như Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (Điều 3 UDHR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (Điều 6 ICCPR). Tại Việt Nam, Điều 19 Hiến pháp năm 2013 long trọng khẳng định mọi người đều có quyền sống, tính mạng con người được pháp luật bảo hộ và không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật. Nhằm cụ thể hóa tinh thần Hiến pháp, Bộ luật Hình sự đã quy định việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm tính mạng con người, bất kể thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hay vô ý. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự đối với tội vô ý làm chết người thời gian qua còn bộc lộ nhiều bất cập, khó khăn trong việc phân loại tội danh và đánh giá yếu tố lỗi, tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Như Quỳnh (chuyên ngành Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội) hướng tới các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ các vấn đề lý luận chung, khái niệm, đặc trưng pháp lý và lịch sử phát triển của quy định về tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự Việt Nam cùng kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
- Phân tích chi tiết các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm, khung hình phạt của tội vô ý làm chết người theo Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xây dựng tiêu chí phân biệt tội danh này với các tội danh lân cận.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và công tác xét xử sơ thẩm đối với tội vô ý làm chết người trên phạm vi toàn quốc; từ đó chỉ ra những vướng mắc thực tiễn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng.
- Đối tượng nghiên cứu: Tội vô ý làm chết người trong Bộ luật Hình sự năm 2015, bao gồm các vấn đề lý luận, các dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội phạm và các dấu hiệu định khung hình phạt.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự kết hợp phân tích thực tiễn định tội danh, quyết định hình phạt trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022 (căn cứ số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên hệ thống cơ sở lý thuyết khoa học luật hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật thực định:
- Văn bản pháp luật và điều ước quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (UDHR); Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR); Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với các điều khoản trọng tâm như Điều 8 (Khái niệm tội phạm), Điều 12 (Tuổi chịu trách nhiệm hình sự), Điều 36 (Cải tạo không giam giữ), Điều 128 (Tội vô ý làm chết người), Điều 129, Điều 260, Điều 295; Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 104); Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 98, Điều 99); Luật Giao thông đường bộ; Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BQP; cùng các quy định hình sự nước ngoài như Bộ luật Hình sự Liên bang Nga (Điều 109), Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức (Điều 222), Bộ luật Hình sự Thụy Điển (Chương III Điều 7, 9, 11).
- Khái niệm và học thuyết pháp lý: Tác giả kế thừa và tổng hợp các quan điểm khoa học từ các giáo trình chuyên ngành và công trình bình luận của các luật gia như Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vắc, Đinh Văn Quế, Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn, Trịnh Tiến Việt.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phòng chống tội phạm. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp lý luận, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu lịch sử và đối chiếu quốc tế), phương pháp thống kê xã hội học pháp lý và phương pháp nghiên cứu tình huống án thực tế (case study).
- Nguồn dữ liệu: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Kiểm sát Hà Nội; sách bình luận khoa học Bộ luật Hình sự; các bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân; cùng dữ liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn từ ngày 01/10/2017 đến ngày 30/09/2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tội vô ý làm chết người
Chương này tập trung xác lập hệ thống nhận thức lý luận nền tảng, khảo cứu tiến trình lập pháp trong nước và đối chiếu pháp luật hình sự quốc tế:
-
Khái niệm và đặc trưng cơ bản:
- Dựa trên phân tích ngữ nghĩa học và quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả đưa ra định nghĩa: "Tội vô ý làm chết người là hành vi vi phạm quy tắc an toàn nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người trong điều kiện sinh hoạt thông thường gây ra cái chết cho người khác được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý, xâm phạm đến tính mạng của con người."
- Các đặc trưng lý luận bắt buộc: Hành vi vi phạm quy tắc an toàn thông thường; hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm vật chất; giữa hành vi và hậu quả phải có mối quan hệ nhân quả tất yếu; lỗi thuộc hình thức vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả); chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
-
Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam:
- Giai đoạn 1945 đến trước năm 1985: Nhà nước ban hành nhiều sắc lệnh (Sắc lệnh số 21/SL, 26/SL, 27/SL, 40/SL, 223/SL năm 1946; Sắc lệnh 133/SL, 150/SL, 151/SL năm 1953) cùng các văn bản hướng dẫn như Thông tư 442/TTg (1955), Thông tư bổ khuyết 556/TTg (1955), Bản tổng kết số 10/NCPL (1968), Bản chuyên đề kèm Công văn số 452-HS2 (1970) và Sắc luật số 03/SL (1976) của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thời kỳ này tội danh chưa được quy định hoàn chỉnh độc lập trong một đạo luật thống nhất.
- Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1985: Tội danh được quy định tại Điều 104. Hạn chế của điều luật này là gộp chung hành vi vô ý làm chết người thông thường (khoản 1) với hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (khoản 2), dẫn đến sự bất hợp lý về mặt phân hóa khung hình phạt và chưa định lượng rõ tình tiết "làm chết nhiều người".
- Giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999: Tách hành vi tại Điều 104 BLHS 1985 thành hai tội danh độc lập: Điều 98 (Tội vô ý làm chết người) và Điều 99 (Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự tiến bộ dù vẫn giữ nguyên cụm từ định tính "làm chết nhiều người".
-
Quy định của pháp luật hình sự một số quốc gia:
- Liên bang Nga: Điều 109 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định tội vô ý làm chết người gồm 3 khoản: khoản 1 quy định cấu thành cơ bản; khoản 2 quy định trường hợp vi phạm quy tắc nghề nghiệp; khoản 3 quy định tình tiết định khung tăng nặng khi làm chết từ hai người trở lên với các hình phạt hạn chế tự do hoặc phạt tù có thời hạn.
- Cộng hòa Liên bang Đức: Điều 222 Bộ luật Hình sự Đức quy định khái quát một cấu thành tội phạm cơ bản duy nhất với mức phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền; chủ thể là người có năng lực lỗi từ đủ 14 tuổi trở lên (Điều 19, 20).
- Thụy Điển: Quy định tại Phân II Chương III Điều 7 (phân hóa trường hợp ít nghiêm trọng phạt tiền, nghiêm trọng phạt tù từ 6 tháng đến 6 năm). Đáng chú ý, Điều 9 Bộ luật Hình sự Thụy Điển còn xử lý hành vi do cẩu thả tạo ra mối nguy hiểm chết người dù hậu quả chết người chưa xảy ra trên thực tế; Điều 11 xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội.
Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội vô ý làm chết người
Chương 2 phân tích các dấu hiệu pháp lý theo bốn yếu tố cấu thành tội phạm, chế tài hình phạt tại Điều 128 và các tiêu chí phân biệt tội phạm thực tiễn:
-
Phân tích bốn yếu tố cấu thành tội phạm (Điều 128 BLHS 2015):
- Khách thể: Quyền sống của con người độc lập tính từ thời điểm sinh ra đến khi chết sinh học. Bào thai chưa phải là một cơ thể độc lập nên không phải đối tượng tác động của tội phạm này theo pháp luật Việt Nam. (Dẫn chứng: Bản án số 30/2020/HS-ST ngày 08/06/2020 của TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu - vụ án Hảng A P đi săn thú bắn nhầm làm chết Chang A D).
- Mặt khách quan: Hành vi vi phạm quy tắc an toàn trong sinh hoạt thông thường (các quy tắc chưa được quy định thành tội danh chuyên ngành). Hậu quả làm chết người là dấu hiệu bắt buộc. Tồn tại quan hệ nhân quả tất yếu giữa hành vi và hậu quả. (Dẫn chứng: Bản án số 10/2021/HS-ST ngày 23/03/2021 của TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình - vụ án Đỗ Văn Th lái máy xúc thiếu quan sát làm sập tường đè chết Bùi Văn Đ).
- Chủ thể: Là chủ thể thường, người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên theo Điều 12 Bộ luật Hình sự.
- Mặt chủ quan: Hình thức lỗi vô ý, gồm:
- Vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội thấy trước hành vi có thể gây chết người nhưng tự tin cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. (Dẫn chứng: Bản án số 01/2023/HS-ST ngày 18/01/2023 của TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa - vụ án Lương Văn T lái xe máy kéo tự chế chở Hà Văn K trên thùng xe dẫn đến tai nạn lật xe làm tử vong nạn nhân).
- Vô ý vì cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hậu quả chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước. (Dẫn chứng: Vụ án trường Gateway tại TAND quận Cầu Giấy, Hà Nội xét xử Nguyễn Bích Quy 24 tháng tù, Doãn Quý Phiến 15 tháng tù về tội vô ý làm chết người; Nguyễn Thị Thủy 12 tháng tù về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng).
-
Hình phạt theo Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Khung 1 (Khoản 1 - cấu thành cơ bản): Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Điểm mới tiến bộ là bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ và nâng mức khởi điểm phạt tù từ 6 tháng lên 1 năm nhằm tăng tính răn đe.
- Khung 2 (Khoản 2 - cấu thành tăng nặng): Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với hành vi làm chết từ 02 người trở lên, khắc phục triệt để tính định tính mơ hồ của cụm từ "làm chết nhiều người" trong BLHS 1999.
-
Phân biệt tội vô ý làm chết người với các tội phạm liên quan:
- Với Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129): Khác biệt ở chỗ Điều 129 đòi hỏi chủ thể có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc phải tuân thủ quy tắc chuyên môn ngành nghề hoặc quy định quản lý hành chính nhà nước. (Phân tích vụ việc quân nhân Nguyễn Văn B đùa nghịch súng tiểu liên AK bóp cò làm chết Trần Văn H theo tinh thần Thông tư liên tịch 01/2003/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BQP).
- Với Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260): Khách thể của Điều 260 là an toàn giao thông đường bộ; chủ thể là người tham gia giao thông; hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông cụ thể. (Dẫn chứng: Bản án số 35/2021/HS-PT ngày 28/07/2021 của TAND tỉnh Hòa Bình - vụ Bùi Văn T đi sai làn đường gây tai nạn làm chết người).
- Với Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người (Điều 295): Điều 295 xâm phạm trật tự an toàn lao động hoặc nơi công cộng; chủ thể thường là người chịu trách nhiệm an toàn lao động hoặc người lao động trong quá trình sản xuất. (Dẫn chứng: Bản án số 78/2021/HS-ST ngày 21/10/2021 của TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An - vụ Hoàng Trọng K1 điều khiển xe bơm bê tông sụt lún chân chống làm chết công nhân Nguyễn Thành D1).
Chương 3: Thực tiễn áp dụng Bộ luật Hình sự 2015 về tội vô ý làm chết người và một số đề xuất
Chương 3 tổng hợp dữ liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp trên cả nước giai đoạn 2018 - 2022 và đưa ra định hướng hoàn thiện:
- Số liệu xét xử tội vô ý làm chết người (2018 - 2022):
Trong 5 năm, Tòa án nhân dân các cấp đã đưa ra xét xử sơ thẩm 497 vụ án với 547 bị cáo phạm tội vô ý làm chết người.
Bảng 3.1: Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội vô ý làm chết người ở Việt Nam giai đoạn 2018 - 2022
| Năm |
Số vụ án |
Số bị cáo |
| 2018 |
89 |
95 |
| 2019 |
94 |
101 |
| 2020 |
97 |
108 |
| 2021 |
99 |
107 |
| 2022 |
118 |
126 |
| Tổng cộng |
497 |
547 |
(Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao, Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự từ 01/10/2017 đến 30/09/2022)
- Cơ cấu tương quan với tình hình tội phạm chung:
Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm trên toàn quốc giai đoạn 2018 - 2022 là 167.033 vụ với 254.107 bị cáo. Tội vô ý làm chết người chiếm tỷ lệ trung bình khoảng 0,2975% tổng số vụ án hình sự.
Bảng 3.2: Tương quan số vụ tội vô ý làm chết người so với tổng số vụ phạm tội hình sự xét xử sơ thẩm (2018 - 2022)
| Năm |
Số vụ vô ý làm chết người |
Tổng số vụ phạm tội nói chung |
Tỷ lệ (%) |
Số bị cáo vô ý làm chết người |
Tổng số bị cáo phạm tội nói chung |
Tỷ lệ (%) |
| 2018 |
89 |
21.597 |
0,412% |
95 |
35.053 |
0,271% |
| 2019 |
94 |
29.690 |
0,3166% |
101 |
45.018 |
0,224% |
| 2020 |
97 |
36.639 |
0,249% (0,264%) |
108 |
56.842 |
0,190% |
| 2021 |
99 |
37.783 |
0,262% |
107 |
57.066 |
0,1875% |
| 2022 |
118 |
41.324 |
0,2855% |
126 |
60.128 |
0,2095% |
| Tổng cộng |
497 |
167.033 |
0,2975% |
547 |
254.107 |
0,215% |
(Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao, Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự từ 01/10/2017 đến 30/09/2022)
- Vướng mắc thực tiễn và giải pháp hoàn thiện:
- Đánh giá thực trạng cho thấy số vụ và số bị cáo có xu hướng gia tăng qua các năm (từ 89 vụ năm 2018 lên 118 vụ năm 2022).
- Việc định danh tội phạm còn gặp nhiều khó khăn ở ranh giới giữa lỗi vô ý vì cẩu thả với trường hợp sự kiện bất ngờ (không có lỗi), giữa quy tắc an toàn sinh hoạt thông thường với quy tắc kỹ thuật chuyên ngành chưa được hình sự hóa riêng biệt.
- Tác giả đưa ra các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện kỹ thuật lập pháp trong Bộ luật Hình sự và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu thực chứng: Cung cấp bức tranh số liệu xét xử sơ thẩm toàn quốc về tội vô ý làm chết người từ năm 2018 đến 2022 với 497 vụ án và 547 bị cáo trên tổng số 167.033 vụ án hình sự sơ thẩm (chiếm tỷ lệ 0,2975%). Số liệu phản ánh sự gia tăng liên tục từ 89 vụ (2018) lên 118 vụ (2022).
- Đóng góp về mặt lý luận và lập pháp:
- Làm sáng tỏ bản chất của các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội vô ý làm chết người theo Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, chỉ rõ tính ưu việt của việc bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ và định lượng hóa tình tiết làm chết từ 02 người trở lên.
- Thiết lập hệ thống tiêu chí ranh giới rõ ràng để phân biệt Điều 128 với các tội danh có cùng hậu quả vô ý làm chết người (Điều 129, Điều 260, Điều 295) thông qua các vụ án thực tế đã xét xử.
- Đóng góp so với các công trình trước: Tác giả đã kế thừa và khắc phục hạn chế của các nghiên cứu tiền nhiệm (như luận văn của Hà Hùng Sơn năm 2011 chỉ nghiên cứu theo BLHS 1999 và phân tích chung cả nhóm tội; luận văn của Trần Trung Kiên năm 2020 so sánh luật quốc tế chưa đầy đủ và thiếu kiến nghị lập pháp) bằng việc phân tích chuyên sâu Điều 128 BLHS 2015, mở rộng so sánh luật hình sự ba nước (Nga, Đức, Thụy Điển) và cập nhật số liệu tư pháp mới nhất đến năm 2022.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát số liệu thực tiễn của đề tài giới hạn trong giai đoạn 5 năm (2018 - 2022) ở cấp xét xử sơ thẩm theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao; chưa đi sâu vào toàn bộ quy trình thi hành án hình sự hoặc điều tra, truy tố đối với loại tội phạm này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra, truy tố; khảo sát chuyên sâu hơn về các dạng hành vi vi phạm an toàn công cộng mới phát sinh trong đời sống xã hội hiện đại; tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự quốc tế về tội danh liên quan đến việc tạo ra mối nguy hiểm đe dọa tính mạng con người.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự; đồng thời phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật.
- Nội dung giá trị thực tiễn: Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận định tội danh theo Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015; hướng dẫn phương pháp xử lý các tình huống phân biệt tội danh phức tạp (kèm theo các bản án điển hình cụ thể); bảng số liệu thống kê tư pháp 5 năm cung cấp luận cứ thực chứng phục vụ cho các nghiên cứu tội phạm học và cải cách tư pháp.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo pháp luật hình sự Việt Nam, bào thai có phải là đối tượng tác động của tội vô ý làm chết người không?
Không. Theo pháp luật hình sự Việt Nam, đối tượng tác động của tội vô ý làm chết người là con người độc lập tính từ thời điểm được sinh ra cho đến khi chết sinh học. Bào thai chưa tồn tại độc lập mà phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ, do đó không được coi là con người độc lập và không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm tính mạng nói chung cũng như tội vô ý làm chết người nói riêng.
2. Điểm mới căn bản về quy định hình phạt tại Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Điều 98 Bộ luật Hình sự năm 1999 là gì?
Điều 128 BLHS 2015 có hai điểm mới lớn: Thứ nhất, tại cấu thành cơ bản (khoản 1), luật bổ sung loại hình phạt không tước tự do là cải tạo không giam giữ đến 03 năm và nâng mức khởi điểm của hình phạt tù từ 06 tháng lên 01 năm (khung phạt tù từ 01 đến 05 năm). Thứ hai, tại cấu thành tăng nặng (khoản 2), luật đã định lượng rõ ràng tình tiết "làm chết 02 người trở lên" thay thế cho cụm từ định tính "làm chết nhiều người" của BLHS 1999.
3. Tiêu chí cốt lõi để phân biệt tội vô ý làm chết người (Điều 128) với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129) là gì?
Tiêu chí cốt lõi nằm ở tính chất của quy tắc bị vi phạm và nghĩa vụ của chủ thể: Ở Điều 128, hành vi vi phạm là quy tắc bảo đảm an toàn chung trong sinh hoạt đời sống thông thường. Ở Điều 129, quy tắc bị vi phạm là quy tắc chuyên môn kỹ thuật ngành nghề hoặc quy tắc quản lý hành chính nhà nước, và người phạm tội là chủ thể có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc phải nắm vững và tuân thủ các quy tắc này khi thực hiện công việc.
4. Dữ liệu xét xử sơ thẩm toàn quốc giai đoạn 2018 - 2022 ghi nhận bao nhiêu vụ án và bị cáo về tội vô ý làm chết người?
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao từ ngày 01/10/2017 đến 30/09/2022, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 497 vụ án với 547 bị cáo về tội vô ý làm chết người trên tổng số 167.033 vụ án hình sự sơ thẩm nói chung (chiếm tỷ lệ 0,2975%).
5. Pháp luật hình sự Thụy Điển có điểm khác biệt đặc thù nào so với Việt Nam về việc xử lý hành vi vô ý liên quan đến tính mạng?
Điểm khác biệt nổi bật là Điều 9 Bộ luật Hình sự Thụy Điển quy định xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi do cẩu thả gây ra mối nguy hiểm chết người hoặc nguy cơ gây tổn hại nặng đến sức khỏe người khác ngay cả khi hậu quả chết người chưa xảy ra trên thực tế; đồng thời Điều 11 còn quy định trách nhiệm hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội ngộ sát.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Như Quỳnh đã giải quyết một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tội vô ý làm chết người theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bằng phương pháp nghiên cứu quy phạm kết hợp đối chiếu quốc tế và phân tích các tình huống án thực tế, công trình đã làm nổi bật các dấu hiệu cấu thành pháp lý đặc thù và xây dựng bộ tiêu chí phân biệt tội danh khoa học. Kết quả phân tích dữ liệu thống kê tư pháp 497 vụ án sơ thẩm giai đoạn 2018 - 2022 cung cấp luận cứ thực chứng xác đáng, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả xét xử, phòng chống tội phạm xâm phạm tính mạng con người tại Việt Nam.