CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUAN CHUNG VE TOI VÔ ¥ LAM CHET NGƯỜI 1, ờ Việc làm sáng tổ khái niệm tội vô ý làm chết người cũng như đơa ra định, nghĩa khoa học về tội pham này có ý nghĩa cả về lý luận va thực tiễn Điều này tạo 1a nén ting lý luận cho việc phân tích và bình luận các quy định về tội phạm này trong Bộ luật Hình sự, diy cũng sẽ là cơ sở cho việc đưa ra các đề xuất hoàn thiện, quy đính của Bồ luật Hình sơ năm 2015 về tôi vô ý lâm chất người Cin cứ vào Từ didn Tiếng Việt “vồ ý" được hiểu là "không để ý đến, do sơ suit", “Tim chết người” được hiểu là trong điều kiện sinh hoạt bình thường gây nên. say biên đổi trạng thei của con người từ một cơ thể sống chuyển sang chấm dit và xuất khi năng sống, Trong khoa học hình sự Việt Nem có nhiều quan niệm khác nhau về tôi vô ý lâm chất người. Quan diém thử nhất cho rằng "vổ ƒ làm chết người là hành vi của một người làm cho người khác chết với lỗ vô, *1: Quen điểm này vi tội vô ý làm chết người không dé cập đến dâu hiệu năng lục trách nhiệm hình sự và các dẫu hiệu. của chủ thé đối với tội phạm này.
‘Theo quan điểm của Tham phán, ThS Dinh Van Qué: *Ƒ6ý làm chết người là hành vi của một người không thdy trước được hành vi của mình có khá năng gập ra chết người mặc dit phải thấy trước và có thé thập trước hoặc ty thấy trước thùng tài rằng Wl Gud &s Nông vay Ya": Khải Bite tây Ota Cpe nhường tồi hãi tình tHóc lỗi vô 9d quá ty tin và vỏ ý Wied thế trong yấu td I vey Ty nhiên, có thể thÌy khái giệm này đúá rá việc xác định hình thúc lỗt hon là gata tiệt khát aiden: đầy đã để cá tiệt ibe Hành vĩ vô ý làni, chốt nghời Vói ấp tội pli 2 Trần Văn Luyên, Phùng Thể Vắc (2001), Bình Ind khoa lọc Bộ luật Hình sự, Nob Công an nhân dân, Ha Nội, trđ8 2 Đinh Văn Qué (2003), Bình luận khoa học Bộ hit lành sự (Phin các ti pham), Tập 1: Các tãi xâm phạm ink mang, sức khắc, nhân phẫm, danh de cia con người, Nsb thành nhỏ Hồ Chỉ Minh, thành phố H Chỉ Minh, tr103 khác cũng có dâu hiệu vô ý làm chất người. V ê mặt hậu qué của hành vi, khát niệm, "này chưa néu hậu quá của hành vi đó là phấi gây ra cái chất cho người khác — dâu hiệu bit buộc của tội võ ý làm chất người ma lại sử dung cum từ "khả năng gây ra cái chết" túc là "chết người” ở đây mới chỉ ở dạng tiềm năng Đồng thời, giống với quan đấm thứ chất, khổ siệm: này cũng chua để cập đến đấu hiệu năng lye trách. nhiệm hình sự và các dấu hiệu của chủ thé đổi với tội phạm này. Ranh giới giữa hành vi của tội vô ý lâm chết người với các hành vi cia các tối phạm khác cũng có dấu hiệu vé ý làm chất người (như Tới làm chất người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện ejte Thông đuờng be din đâu bàn qua chẾEHEBBLL) ng chin được làn xt.
‘Theo quien điển, của tác wa Nguyen N gúc Hòa va LẾTHí Sen trong Từ điển: pháp luật hình sự. “17 làm chết người là trường hợp vô ý gật ra hậu quả chất người do vi pham guy tắc an toàn về tinh mang, sức Khée trong những Tinh vực khác nhan cũa hoạt động chung xã hội. Những quy tắc này có thé đã được guy "phạm hoá hoặc có thể chí là những quy tắc xứ sự xã hội thông thường đã trở thành: nẾp quan sinh hoại, mot người đầu biẾt và thira nhận “® Quan điểm này đã cụ thể ảo hơn bình vi võ Š làm chất nghi so vất các quan điểm trước những lạ vẩn tide: dâu hiệu chủ thể của tội phạm, XẾ thửa các quan điểm đã nếu và từ sự phân tích & rên có thể dum ra khái niệm về hành vi về ý lâm chất người như sau: “V2ÿ làm chết người là hành vi ví spat ip th cat Rai dln ibn bc a sen 0d hn any Se Wade cha con at rong đầu kiện sinh hoại thông thường gậy va cái hẤt cho người Wide" 1. Khái niệm về tội vô § làm chết người.
Higa diy, B 6 luật Hình sợ không quỹ định cụ thể về khái cide tội V0 SIAR chết người. Dựa trên khái niệm về tối phạm quy đính tại khoản 1 Điều 8 Bộ Luật Hình nự năm 2015 (sửa ali, bổ mung 2017) quy dink: *Tại phạm là hành vi ngụy kiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hinh sự. do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mai 2Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Son(2009), Tir. php luật lành sự, Nib Từ pháp, Hi Ni, r291 thực hiện một cách có ÿ hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyển thông nhất, toàn ven lãnh th Tổ quắc, xâm phạm chế đồ chính trị, chỗ độ kinh lá, nén văn hóa, qude phòng an nính trật he, an toàn xã hội, quyển loi ích hop pháp cũa tổ chức, xâm nphạm-quylii:contneudksquy hy tot lch hop phip của công dân: sân phạm rhding.
Tinh vực khác cũa trật tự pháp luật xã hội chi ngiãa ma theo quy đình của Bộ luật này phi bi xữ ý hình sự “ “Từ đó, có thé đơa ra khái niệm về tội vô ý làm chết người như sau: “Tại v6 j làm chết người là hành vi vi phạm quy tắc an toàn nhằm đâm bảo an toàn về tinh mạng sức khôe cho con người trong điều kiện sinh hoạt thông thường gậy ra cái chết cho người khác được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực rách nhiém hành sự thực hiện một cách v6. xâm phạm dn tinh mang của con người“ Ta biên khi niệề: vỀ tôi Võ aaa eb người HỆ 'H có thd phân tích đặc (Hi tối 36 ý 1a chất nghời đụa trân các ALO cạnh os = Hành ví vô ý lầm chất người để xác định tôi pham và hình phát theo quy định BLHS hiện hành với tôi danh “Tội v6 ý làm chất người” là hành ví nguy hiểm. cho xã hội vi phạm quy tắc an toàn nhằm dim bảo en toàn về tính mang, sức ke cho con người trong điều kiện sinh hoại thông thường Các quy tắc này thuộc nhiều Tinh vực khác nhau, có thể được quy định trong các vin bản guy phạm pháp luật hoặc là những quy tắc xử sơ thông thường đã trở thành tập quán sinh hoại, được moi người thừa nhân, = Hậu quả của hành vi ví phạm là dẫn đến hậu quả “làm chất người”, đây 1a dâu hiệu bắt buộc của câu thành tội pham tội võ ý làm chất người. Hậu quả chết người là rit nghiêm trong bối tính mạng con người là giá tị quan trong hàng đều, được pháp luật bình sự bão vệ.
Do vậy, việc quy đính hậu quả chất người là đâu, higu bắt buộc trong câu thành tôi pham của tôi này mới thể hiện được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi “vô ý làm chất người”, Giữa hành vi "võ ý lâm chết người" và hậu quả chết người phải có mới quan hệ nhân quả với nhau, Hậu quả chất người dé xây ra phải là hậu qué tất yêu của hành vi vi pham quy tắc bão dim an toàn đó giy ra - VỀ yêu tổ lỗi trong câu thành tội vô ý lam chết người lối là đầu hiệu bit "HC ca đi tộc phan ie egy a ad tuật tình a khôág c8 TÃ 38 không có tôi phạm, Khí con người có đã các điều kiện để lựa chon, ty do điều khiển hành vi nà họ lại lựa chọn hành và phạm tôi tức là họ để có lỗi trong việc thục hiện hành vi pham tội ấy". Đối với tội vô ý làm chất người, tối pham được thục hiện với hình thức lỗi vô ý khí gây ra hấu qua chất người. Người pham tối có thể thực hiện tối phạm do vô ý vì quá tự in ~ là trường hợp người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thé gây ra hậu qué chất người nhưng đã quá furtin cho rằng hiu quả đó sẽ không xảy ra nhưng thục té hậu quả đó vẫn xây ra Hoặc nguời pham tôi có thé thục hién tội pham đo vô ý vì edu thả - là trường hop người pham tôi không thấy trước được hâu quả chất người do hành vi của mình gây, 1a mặc đò họ phối thấy trước và có đã điều kiện thấy trước hậu qua đó = Ngoài các đặc trung riêng về hành vi, hậu quả, về yêu tổ lỗ: của tội V ô ý lần thết tgười ti yêu tổ thủ thể cũa tộ nhẹn cũng cu pit được sấu trang Khái niệm của tội pn dày: Chỗ thể của tội V6 ý lều chất người là nguời có năng lọc trách nhiệm lành sự và đ tuổi cứu TNHS 12. Khái quit im chết người 1.
Gi i đoạn từ năm 1945 dé trrớc hài ban hành Bộ Luật Hin sự măm 1985 Nhà nước Việt Nem dân chủ công hòa ra đời năm 1945, đã ban hành nhiều. vấn bên quy phạm pháp luật, trong đó có văn bản pháp luật hình sự. Nhiễm vụ nỗi bật của pháp luật bình sự Việt Nam ở thời kỳ này là phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của din tộc đi đến thing lợi, trùng tri bọn Việt gian phản đông, bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ các quan hệ xã hồi mới được Nhà nước thiết lập và duy trì Nhà nước ta dé ben hành mốt số sắc lệnh quan trong như sắc lệnh số 21/SL. ngày 14/7/1946, Sắc lệnh số 26/8L ngày 25/2/1946, sắc lệnh số 27/SL ngày 28/2/1946, Sắc lệnh số 408L ngày 29/3/1946, sắc lệnh số 223/8L ngày * Trinh Tiến Việt (2013), Tại phạm và rách nhiệm lành sự, Nido Chính trì Quốc gia ~ Sự thất, Hà Nội tr26 10 27/11/1946, sắc lạnh 133/5L ngày 20/1/1953, sắc lệnh sổ 150/SL, 151/SL ngày 12/4/1953.