Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận các công trình đã công bố về máy nghiền bột nước 1. Tổng luận các công trình đã công bố về máy nghiền bột nước ở trong nước Bún tươi, bánh tráng, bánh phở, bánh cuốn,… là những thực phẩm truyền thống của dân tộc ta, có mặt ở hầu hết các địa phương trên cả nước. Đây là những sản phẩm được chế biền từ bột gạo sản xuất theo công nghệ nghiền ướt.
Trong đó thiết bị chủ yếu để sản xuất là các cối đá làm việc theo nguyên lý nghiền kiểu đĩa trục đứng. Cối đá có thể dùng sức sức người, động cơ, v.v…Đây là loại thiết bị dùng chủ yếu để nghiền bột gạo theo phương pháp ướt ở nước ta từ trước những năm 2. Theo nhu cầu xã hội, yêu cầu chuyên môn hóa sản xuất, loại thiết bị này ngày càng tỏ ra làm việc kém hiệu quả do cho năng suất thấp, chất lượng sản phẩm nghiền khó kiểm soát do quy trình nghiền phức tạp vì phải nghiền đi, nghiền lại nhiều lần. Do đó loại thiết bị nghiền cối đá theo nguyên lý nghiền đĩa ngày càng ít sử dụng.
Hiện chỉ còn thấy ở một số gia đình nông dân các tỉnh Phía Bắc, hay một số rất ít hộ kính doanh cá thể nhỏ lẻ. Máy xay gạo kiểu cối đá (kiểu nghiền đĩa). download by : skknchat@gmail.com 6 Theo sự phát triển xã hội, thói quen tự chế biến tại các gia đình và các cơ sở sản xuất bột gạo theo nguyên lý nghiền ướt cũng dần mất đi, để hình thành lên những cơ sở sản xuất chuyên môn hóa với năng suất, hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy đã đặt ra nhu cầu thiết bị nghiền bột ướt mới nhằm khác phục các nhược điểm của các thiết bị nghiền dạng cối đá.
Trần Thị Thanh và các cộng sự có những công bố đầu tiên về máy nghiền búa-thuỷ lực dùng trong công nghệ nghiền ướt. Một ưu điểm của nguyên lý nghiền này là cho năng suất cao, độ nhỏ bột nghiền có thể đạt công nghệ micro, phù hợp cho các đối tượng dễ nghiền như bùn đỏ là chất thải trong khai thác quặng nhôm. Sản phẩm sau khi nghiền được dùng dùng làm chất keo tụ trong xử lý nước thải. Cấp liệu vào máy nghiền Hình 1.
Máy nghiền bùn đỏ kiểu búa – thủy lực. Nguyễn Thị Kiều Hạnh cùng các cộng sự thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, mã số CS – CB07 – CK – 02 là “Nghiên cứu thiết kế - chế tạo mô hình máy nghiền gạo ứng dụng trong công nghệ sản xuất bún”. Đề tài đã phát triển và ứng dụng nguyên lý nghiền búa – thủy lực vào nghiền gạo là kết quả nghiên cứu của PGS. Trần Thị Thanh vào sản xuất bún tươi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy máy đạt năng suất 500 kg/h, công suất động cơ truyền động 10 HP, độ download by : skknchat@gmail.com 7 nhỏ bột nghiền dưới 70 m. Hiện nay loại máy nghiền này đã được áp dụng khá rộng rãi ở hầu hết các cơ sở sản xuất bún tươi của các tỉnh Phía Nam. Lưới sàng máy nghiền gạo ướt. Cấu tạo máy nghiền gạo ướt.
Tuy nhiên máy nghiền búa – thủy lực kiểu búa dạng cánh cũng còn một số tồn tại như hiệu quả nghiền chưa cao, do quá trình nghiền chủ yếu là do trượt ma sát giữa cánh búa lên lớp vật liệu nghiền và giữa lớp vật liệu nghiền với bề mặt lưới sàng. Tổng luận các công trình đã công bố về máy nghiền bột nước ở ngoài nước Các kết quả nghiên cứu về nghiền bao gồm việc hoàn thiện lý thuyết, công nghệ và thiết bị nghiền. Về lý thuyết nghiền đã được nhiều nhà bác học quan tâm và giải quyết để xác định cơ chế nghiền vỡ. Năm 1867 nhà bác học người Đức P.Ritingơ đã phát minh ra thuyết bề mặt “Công dùng cho quá trń h nghiền tỷ lệ thuận với bề mặt mới tạo thành của vật liệu đem nghiền”.
Công thức biểu diễn thuyết bề mặt trình bày: As = f ( S) , (J) ; (1.1) Trong đó: As - công chi phí để nghiền vỡ vật thể, tạo thành bề mặt mới , [J]; S - diện tích bề mặt mới được tạo thành (sự gia tăng diện tích riêng bề mặt). Thuyết bề mặt được áp dụng nhiều để đánh giá quá trń h nghiền mịn, vì khi đó sản phẩm nhận được với diện tích riêng bề mặt phát triển cao. Thuyết thể tích được nhà cơ học người Nga V. Kirpitrev (1874) đề xuất và download by : skknchat@gmail.com 8 được Giáo sư người Đức Ph.Kik(1885) kiểm tra bằng thực nghiệm trên máy nghiền kiểu búa.
Nội dung cơ bản của thuyết thể tích là : “Công cần thiết để nghiền vật liệu tỷ lệ thuận với mức độ biến đổi thể tích của vật liệu” Av = f( V) , (J) ; (1.2) Trong đó: Av - công chi phí để nghiền vỡ vật thể ,[J]; V - phần thể tích vật thể bị biến dạng. Nhưng phần thể tích bị biến dạng V lại tỷ lệ thuận với thể tích ban đầu V của tất cả các cục vật liệu, nghĩa là V = k1. Cho nên : Av = k .3) Trong đó: kv, k, k1, k2 - các hệ số tỷ lệ trong các công thức theo thuyết thể tích. m - khối lượng cục vật liệu nghiền, [kg].
Thuyết thể tích của Kirpitrer -Kik cho kết quả chính xác hơn trong tính toán quá trń h nghiền thô. Bởi vì khi nghiền thô, phần năng lượng chi phí cho biến dạng đàn hồi vật thể là chủ yếu, còn năng lượng chi phí cho việc gia tăng diện tích riêng bề mặt thì không đáng kể. Những người ủng hộ thuyết bề mặt và thuyết diện tích đă tranh luận gay gắt với nhau hơn nửa thế kỷ, nhưng họ không thành công kể cả thuyết thứ nhất lẫn thuyết thứ hai. Bởi vì họ mắc sai lầm, chỉ đứng về một phía và không chú ý đến ảnh hưởng của các điều kiện cụ thể của quá trń h nghiền và dung tích năng lượng của nó (như mức độ phân tán vật liệu, cấu tạo và chế độ nghiền v.
Hai thuyết diện tích và thể tích có nhược điểm như đă nêu cho nên Ph. Bon(1952) đă đề xuất một thuyết nghiền thứ ba để dung h ̣a hai thuyết trên. Nội dung của thuyết dung hòa cho rằng: “Công nghiền tỷ lệ với trung bình nhân giữa thể tích (V) và bề mặt (F) của vật liệu đem nghiền”.4) download by : skknchat@gmail.com 9 Sau khi biến đổi chúng ta nhận được : Adh = kdh.5) d D Sau này còn có công trń h nghiên cứu của nhà bác học Nga A. Rungbixt (1956) và nhà bác học người Mỹ R.
Các nhà bác học này đă giới thiệu phương trình: d dA = -c.6) z Trong đó : A - công biến dạng ,[J]; - kích thước đặc trưng (đối với cục vật liệu là D và các phần tử bột nghiền là d ) , [mm]; c và z - các hệ số. Lấy tích phân phương trń h (1.6) và sau khi cho các giá trị rời rạc z = 1; 2; 3/2, bằng sự tính toán đến giá trị cuối cùng của các kích thước chúng ta sẽ nhận được giá trị gần đúng tích phân có dạng: A = k.7) Khi đó chỉ số mũ q có các giá trị 3 ; 2 và 2,5. Tương ứng với các biểu thức sau: A v = k v. D3 - Thuyết thể tích của Kirpitrev - Kik.
D2 - Thuyết diện tích của Ritingo. D2,5 - Thuyết dung h ̣a của Bon. Rõ ràng là cả hai thuyết diện tích và thể tích không mâu thuẫn nhau mà chúng bổ sung cho nhau. Nếu nghiền tương đối to (nghiền thô) thì phần diện tích riêng được tạo ra nhỏ, có thể bỏ qua nghĩa là áp dụng thuyết thể tích.
Đồng thời qua nghiên cứu cho chúng ta thấy quá trń h nghiền là quá trń h phức tạp bao gồm nhiều biến đổi cơ lý của vật liệu trong khi nghiền. Như vậy các thuyết nghiền nêu trên chỉ là gần đúng để nghiên cứu và được hiệu chỉnh về mặt thực nghiệm. Do chỗ thiếu sót của cả hai thuyết diện tích và thể tích khi dựa vào các tính chất cơ lý của vật liệu nghiền trong biến dạng, Viện sĩ người Nga P.Rebinder download by : skknchat@gmail.8) Trong đó : V- phần thể tích bị biến dạng của vật nghiền S - diện tích riêng bề mặt được gia tăng. Ath = Av + As = k .9) Trong đó: Av - công chi phí cho sự biến dạng của vật liệu ; As - công chi phí cho sự tạo thành các bề mặt mới; k - hệ số tỷ lệ; - hệ số tỷ lệ có tính toán đến năng lượng sức căng bề mặt của vật thể cứng.
Từ phương trń h (1.8) cho thấy công đầy đủ để nghiền vỡ vật thể bằng tổng các công chi phí cho biến dạng lẫn tạo ra bề mặt mới. Về lý thuyết máy nghiền búa: Theo C.A Steven (1936) thì vận tốc dài của búa nghiền và kích thước lỗ sàng ảnh hưởng rõ ràng tới độ mịn của bột nghiền, vận tốc búa nghiền càng lớn thì nghiền các hạt càng nhỏ.F Thomas (1956) cho biết độ mịn của sản phẩm tỷ lệ với khe hở giữa đầu búa tấm đập cũng như tấm sàng. Khe hở thay đổi trong khoảng từ 3 – 9 mm tuỳ theo loại hạt cần nghiền. Friedrich (1958), đối với đa số các loại hạt, kích thước tối ưu khe hở là 8 mm.J Baker (1972), tỷ lệ diện tích sàng trong buồng nghiền và kích thước lỗ sàng ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cũng như hiệu suất của máy.
Ông cũng cho rằng nếu diện tích sàng chiếm toàn bộ buồng nghiền thì sản phẩm hơi thô so với khi diện tích sàng có diện tích sàng tỷ lệ thấp hơn. Các nghiên cứu này đều được nghiên cứu và khảo nghiệm trên máy nghiền búa thông thường ( nghiền khô). download by : skknchat@gmail.com 11 Các loại máy nghiền thường chỉ được nêu là máy nghiền khô.000, việc nghiền ướt chỉ được dùng trong giới hạn một số công nghệ như nghiền ca cao, nghiền sơn hay ở một số rất ít đối tượng nghiền khác. Năm 2011, bắt đầu thấy khái niệm thiết bị nghiền thủy lực, nghiền ướt được công bố trên Internet, mà chủ yếu là của Trung Quốc.6 giới thiệu các máy nghiền ướt có nguyên lý làm việc kiểu máy nghiền côn – thủy lực do Trung Quốc sản xuất và chuyển giao thương mại.
Các thông số kỹ thuật cơ bản của các loại máy này được nhà cung cấp giới thiệu như bảng 1. Máy nghiền ướt kiểu trục Hình 1. Máy nghiền ướt kiểu trục đứng. Các thông số kỹ thuật cơ bản máy nghiền bột ướt.
download by : skknchat@gmail.