Nghiên cứu tối ưu mô hình máy nghiền than đá MNTĐ-2: Luận văn ThS Lê Công Minh, ĐH Lâm nghiệp

Luận văn thạc sĩ phân tích mô hình, tối ưu thông số máy nghiền than đá MNTĐ-2. Nâng cao hiệu suất, giảm bụi, tiết kiệm chi phí sản xuất.

Chuyên ngành

Kỹ thuật cơ khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể và ứng dụng máy nghiền than đá vào sản xuất ở ngoài nƣớc

1.1.1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể

1.2. Tổng luận các công trình đã công bố về về quá trình nghiền vỡ vật thể và ứng dụng máy nghiền than đá vào sản xuất ở trong nƣớc

1.2.1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Tối Ưu Mô Hình Máy Nghiền Than Đá MNTĐ 2

Than đá đóng vai trò quan trọng trong an ninh năng lượng, đặc biệt trong sản xuất điện năng, xi măng và thép. Tuy nhiên, việc xuất khẩu than thô mang lại giá trị kinh tế không cao. Chế biến than đá thành các sản phẩm có kích thước hạt đồng đều, ví dụ như 0,6-8,0 mm, có thể tăng giá trị xuất khẩu đáng kể. Bài toán đặt ra là làm sao để tối ưu hóa quá trình nghiền than, giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả. Hiện nay, nhiều cơ sở chế biến than đá áp dụng các nguyên lý nghiền khác nhau, nhưng vẫn còn tồn tại các vấn đề về tiêu thụ năng lượng và hư hỏng thiết bị. Do đó, việc nghiên cứu và xác định mô hình máy nghiền than đá hợp lý, cùng với các thông số tối ưu, là vô cùng cấp thiết.

1.1. Tầm quan trọng của việc tối ưu hóa máy nghiền than đá

Việc tối ưu hóa máy nghiền than đá không chỉ giúp tăng giá trị xuất khẩu mà còn đảm bảo nguồn cung ổn định cho các ngành công nghiệp sử dụng than đá làm nguyên liệu. Các nghiên cứu về mô hình máy nghiền than đá MNTĐ-2 có thể giúp các doanh nghiệp lựa chọn thiết bị phù hợp và vận hành hiệu quả hơn. Việc này cũng góp phần vào việc tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu tác động đến môi trường. Cần phải có quy trình vận hành mô hình máy nghiền than đá đáp ứng được yêu cầu công nghệ và phải được kiểm tra thường xuyên.

1.2. Mục tiêu của luận văn thạc sĩ về tối ưu MNTĐ 2

Luận văn thạc sĩ tập trung vào việc nghiên cứu và xác định mô hình máy nghiền than đá MNTĐ-2 phù hợp, đồng thời tìm ra các thông số tối ưu cho mô hình này. Mục tiêu cuối cùng là ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất, giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh tế và kỹ thuật trong chế biến than đá xuất khẩu.

II. Thách Thức Hiệu Suất Kém của Máy Nghiền Than Đá Hiện Tại

Các máy nghiền than đá hiện tại, đặc biệt là các máy nghiền búa thông thường, thường tạo ra nhiều bụi than trong quá trình nghiền. Điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn làm thất thoát sản phẩm, giảm hiệu quả kinh tế. Nguyên lý nghiền búa, mặc dù phổ biến, lại không mang lại hiệu quả kinh tế cao do sản phẩm nghiền có tỉ lệ các phần tử kích thước bé rất cao. Các nguyên lý nghiền khác như nghiền trục, chậu con lăn tuy có giảm tỉ lệ bụi, nhưng vẫn còn cao và gây hư hỏng các chi tiết tạo lực nghiền. Thêm vào đó, các nguyên lý này tiêu thụ điện năng lớn và năng suất thấp. Đây là những thách thức cần giải quyết để tối ưu hóa mô hình máy nghiền than đá.

2.1. Vấn đề bụi than và ô nhiễm môi trường trong nghiền than đá

Sản phẩm nghiền tạo ra quá nhiều bụi than, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tốn chi phí cho xử lý và làm thất thoát sản phẩm nên không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Cần có các giải pháp cải tiến máy nghiền than đátối ưu hóa quá trình vận hành, giảm bụi than, nâng cao hiệu quả nghiền than.

2.2. Tiêu thụ năng lượng cao và tuổi thọ thiết bị nghiền than thấp

Các máy nghiền hiện tại tiêu thụ quá nhiều năng lượng trong quá trình vận hành, làm tăng chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, các chi tiết máy, đặc biệt là các bộ phận tiếp xúc trực tiếp với than đá, nhanh chóng bị hư hỏng do độ cứng cao của vật liệu này. Việc tối ưu hóa các thông số vận hành máy nghiền than đácải tiến kết cấu máy nghiền giúp kéo dài tuổi thọ thiết bị.

2.3. Khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu về kích thước hạt than đá

Một số ngành công nghiệp yêu cầu than đá có kích thước hạt đồng đều, ví dụ như từ 0,6-8,0 mm. Các máy nghiền hiện tại khó đáp ứng được yêu cầu này, thường tạo ra quá nhiều hạt có kích thước nhỏ hơn 0,6 mm hoặc lớn hơn 8,0 mm. Việc cần tối ưu hóa mô hình máy nghiền than đá để đảm bảo chất lượng sản phẩm cuối cùng.

III. Cách Tiếp Cận Phương Pháp Nghiên Cứu và Thực Nghiệm Máy Nghiền

Để giải quyết các thách thức trên, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Các phương pháp điều tra thống kê, tra cứu tài liệu được áp dụng để nghiên cứu tổng quan về quá trình nghiền vỡ vật thể và các ứng dụng máy nghiền than đá trong và ngoài nước. Dựa trên kết quả nghiên cứu tổng quan, lý thuyết tính toán máy nghiền búa, lý thuyết tính toán vít tải, lý thuyết tính toán xyclon, lý thuyết tính toán bộ phận lọc túi vải, luận văn xác định mô hình máy nghiền than đá theo yêu cầu công nghệ sản xuất chế biến than đá.

3.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về nghiền than đá

Luận văn đã tổng quan các công trình nghiên cứu về nghiền vỡ vật thể, bao gồm các thuyết nghiền (thuyết bề mặt, thuyết thể tích, thuyết dung hòa) và các mô hình toán học mô tả quá trình nghiền. Các công trình nghiên cứu về ứng dụng máy nghiền than đá trong và ngoài nước cũng được đánh giá để rút ra các bài học kinh nghiệm.

3.2. Phương pháp quy hoạch thực nghiệm QHTN và xây dựng mô hình toán học

Luận văn áp dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm (QHTN) để xây dựng hai mô hình toán học nhằm điều khiển quá trình công nghệ nghiền than đá. Các thông số tối ưu hóa được xác định bằng tối ưu hóa các mô hình toán học được lập theo phương pháp TƯH đơn và đa mục tiêu. Quá trình tình toán TƯH được tiến hành trên máy tình điện tử bằng phần mềm của các tác giả Nguyễn Như Nam, Trần Thị Thanh, Nguyễn Trì Tấn (1998) và kiểm tra lại bằng thực nghiệm.

3.3. Các bước tiến hành quy hoạch thực nghiệm chi tiết

Các bước tiến hành quy hoạch thực nghiệm bao gồm: xác định các thông số ra, xác định các thông số vào, lập bài toán “Hộp đen”, chọn bậc phương án thực nghiệm, lập ma trận thì nghiệm (thiết kế thì nghiệm), xác định miền nghiên cứu, lập kế hoạch thực nghiệm trên thông số thực, tổ chức thì nghiệm theo kế hoạch lập và ghi kết quả thì nghiệm vào bảng MTTN ta có ma trận tình toán và xử lý số liệu theo các bước bài bản.

IV. Giải Pháp Mô Hình Máy Nghiền Than Đá MNTĐ 2 Tối Ưu

Mô hình máy nghiền than đá MNTĐ-2 được thiết kế dựa trên việc kế thừa và cải tiến các mô hình hiện có, đặc biệt là MNTĐ-3 và MNTĐ-5. Mục tiêu là tăng diện tích sàng, hạn chế quá trình nghiền lại nhiều lần trong buồng nghiền. MNTĐ-2 có kiểu cấp liệu dạng hướng kính, khi nguyên liệu rơi vào buồng nghiền sẽ được nghiền vỡ và phân ly ngay qua sàng. Với số lượng sàng lắp trong buồng nghiền là 02 cái, chiều dài sàng 780 [mm], bề rộng sàng bằng bề rộng buồng nghiền là 420 [mm] sẽ làm tăng diện tìch sàng nếu theo mô hính MNTĐ – 3, ví vậy tăng khả năng phân ly bột nghiền qua sàng tốt. Hệ thống lọc bụi và thông gió cũng được thiết kế tương tự như MNTĐ-5 để đảm bảo các chỉ tiêu yêu cầu về môi trường.

4.1. Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của máy nghiền than đá MNTĐ 2

Nguyên liệu than đá được băng tải cung cấp liên tục rơi trực tiếp vào buồng nghiền được đập thành các mảnh vụn và vi bụi là các phần tử nghiền. Khi các phần tử nghiền đủ nhỏ nhờ chuyển động ly tâm kết hợp với tác động của trọng lực và lực hút do quạt ly tâm 11 tạo ra sẽ chui qua lỗ sàng để ra khỏi buồng nghiền. Các phần tử nghiền nếu còn năm trong buồng nghiền sẽ tiếp tục bị nghiền vỡ nhờ lực va đập với búa, với chình các phần tử nghiền với nhau hay với các bề mặt các chi tiết trong buồng nghiền. Các thiết bị phụ trợ như băng tải cấp liệu và vìt tải tháo sản phẩm được thiết kế tương tự như MNTĐ – 5 nhưng với năng suất phù hợp, có kể đến khi năng suất đạt tới 200 % năng suất thiết kế, nhằm không gây hiện tượng ùn tắc, hay chạy dưới công suất định mức, năng lượng tiêu hao, phát huy năng suất máy đạt mức cao nhất.

4.2. Hệ thống lọc bụi và đảm bảo vệ sinh môi trường cho MNTĐ 2

Vi bụi và gió tạo ra bởi rô to – búa nghiền quay được quạt ly tâm 11 hút theo ống vận chuyển vi bụi đứng 10, qua quạt và theo ống vận chuyển vi bụi ngang 14 để tới xyclon 15 tiến hành phân tách bụi và không khì. Không khì lọc qua túi vải 18 ra ngoài. Phần vi bụi có kìch cỡ dưới 0,2 mm được giữ lại bằng túi vải lọc để định kỳ tháo đưa ra khỏi máy

4.3. Các thông số kỹ thuật thiết kế của MNTĐ 2 cần quan tâm

Thông số kỹ thuật của MNTĐ – 2 ở công ty Cổ phần Trà Bắc bao gồm công suất động cơ truyền động cho rô to nghiền, cho vít tải sản phẩm nghiền và cho quạt hút bụi. Năng suất thiết kế, kìch thước lỗ sàng, độ nhỏ sản phẩm nghiền. Quan trọng là số vòng quay của rô to – búa nghiền, kìch thước sàng và số lượng sàng cũng cần đặc biệt chú ý. Quan tâm đến các chi tiết này là bạn đã hiểu rõ về MNTĐ -2.

V. Kết Quả Tối Ưu Hóa MNTĐ 2 Bằng Thực Nghiệm QHTN

Để tối ưu hóa mô hình MNTĐ-2, luận văn tiến hành nghiên cứu thực nghiệm bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm (QHTN). Các thông số đầu vào (input) bao gồm số vòng quay của rô to, khe hở giữa búa và sàng, và lượng than đá cung cấp. Các thông số đầu ra (output) là tỷ lệ cấu tử có kích thước phù hợp và chi phí điện năng. Kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ giữa các thông số này và giúp xác định được các thông số tối ưu, giúp MNTĐ-2 đạt hiệu suất cao nhất.

5.1. Xác định các thông số vào và ra trong quy hoạch thực nghiệm

Các thông số ra được chọn là những thông số phản ánh mục tiêu nghiên cứu như đặc trưng cho chất lượng, chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật cho quá trính nghiên cứu. Ngoài ra thông số ra còn phải thỏa mãn các yêu cầu sau: Là đại lượng phụ thuộc vào các thông số kết cấu, công nghệ và đối tượng gia công. Các thông số đầu ra phải là thông số định lượng và có thể đo đạc với độ chình xác yêu cầu ở bất kỳ trạng thái nào trong thực nghiệm. Căn cứ vào các yêu cầu nghiên cứu QHTN thì ta sẽ dễ dàng xác định được kết quả nghiên cứu QHTN cho mô hình máy nghiền than đá MNTĐ – 2.

5.2. Phân tích ảnh hưởng của các thông số đến hiệu suất nghiền than

Phân tìch mô hính toán học mô tả quá trính nghiền than đá bằng MNTĐ – 2 theo hai nội dung: Mức độ ảnh hưởng về độ lớn lẫn chiều tác động của hệ số hồi quy đến mô hính và Phân tìch sự ảnh hưởng bằng bề mặt đáp ứng (vẽ độ thị không gian 3 chiều cho từng cặp yếu tố vào). Bề mặt đáp ứng chình là đồ thị biểu diễn không gian 3 chiều của hàm số với một chiều là giá trị hàm số, hai chiều là 2 thông số vào, còn các thông số còn lại lấy ở mức cơ sở.

5.3. Tìm ra các thông số tối ưu cho máy nghiền MNTĐ 2

Kết quả khi khai báo các hàm y1, y2, viết đúng cú pháp hàm theo ngôn ngữ của phần mềm (ngôn ngữ Pascal). Vào file TU.EXE để vào chương trính lựa chọn tối ưu một hay hai mục tiêu. Khai báo hàm, giá trị biên của biến số mã hóa và Bấm Enter để chạy và xuất kết quả. Có được các thông số thì việc vận hành máy MNTĐ-2 là quá dễ dàng, đó là công sức của quá trình nghiên cứu từ trước.

VI. Kết Luận Tối Ưu Hóa Mô Hình MNTĐ 2 và Triển Vọng

Luận văn đã thành công trong việc xác định và tối ưu hóa mô hình máy nghiền than đá MNTĐ-2. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, có thể ứng dụng trực tiếp vào sản xuất chế biến than đá, nâng cao hiệu quả kinh tế và kỹ thuật cho doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu mở ra các hướng phát triển mới cho công nghệ nghiền than đá, hướng tới các giải pháp tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường hơn.

6.1. Đánh giá các ưu điểm và hạn chế của mô hình MNTĐ 2

Mô hinh máy nghiền than đá nghiên cứu cần phải có hệ thống xử lý khì bụi. Trong số than đá sử dụng thí than đá phun vào lò chiếm 5 % lượng than đá sử dụng và có kìch thước từ 0  0,5, còn than đá trộn cùng với đất để tạo hính gạch nung chiếm 95 % lượng than đá sử dụng và có kìch thước từ 0,2  1,0 mm. cần được làm rõ trong MNTĐ-2

6.2. Hướng phát triển công nghệ nghiền than đá trong tương lai

Các máy nghiền búa hiện tại đạt hiệu quả nghiền không cao do vật liệu nghiền được nghiền nhiều lần trong buồng nghiền, làm cho thành phần sản phẩm nghiền có nhiều phần tử kìch thước nhỏ dạng bụi bột. cần có giải pháp cho vấn đề này.

6.3. Ứng dụng thực tiễn của kết quả nghiên cứu MNTĐ 2

Yêu cầu công nghệ đặt ra cho mô hính máy nghiền than đá nghiên cứu là: Năng suất:  2 tấn/h; + Độ nhỏ sản phẩm nghiền: Độ nhỏ sản phẩm nghiền  8 mm, trong đó có trên 90 % độ nhỏ nằm trong khoảng từ 0,6  8,0 mm; Đảm bảo quá trính sản xuất không gây ô nhiễm môi trường. Thuận tiện cho việc cơ giới hóa và tự động hóa quá trính sản xuất. Điều này cần được ứng dụng rộng rãi.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Than đá là nguồn năng lượng hóa thạch có ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nước ta là một trong những quốc gia có trữ lượng than đá vào loại lớn trên thế giới. Các mỏ than đá của nước ta nằm tập trung ở các tỉnh Phìa Bắc như Quảng Ninh, Thái Nguyên, Ninh Bính, Hòa Bính.

Trong số này có nhiều mỏ than đã được khai thác hàng trăm năm nay. Hiện tại qua thăm dò, cho thấy vỉa than nằm trên lưu vực sông Hồng mà chủ yếu ở hai tỉnh Thái Binh và Hưng Yên có trữ lượng dự đoán lên tới hàng tỷ tấn. Than đá được phân loại ngay trong khai thác theo tình chất của từng mỏ than như than mỡ, than kìp lê,… Do than đá được khai thác từ mỏ tự nhiên nên có các kìch thước khác nhau, từ kìch thước rất bé dạng bụi đến những cục rất lớn. Tùy theo mục đìch sử dụng mà người ta cần chủng loại than đá và kìch thước yêu cầu khác nhau.

Nên sau khai thác, than đá tiếp tục được phân loại theo kìch thước (tuyển than) để đáp ứng mục tiêu của thị trường. Than đá có vị trì, vai trò quan trọng trong an ninh năng lượng để sản xuất điện năng, xi măng, thép…hoặc sử dụng nhiệt trực tiếp. Trước đây việc xuất khẩu than thường chỉ là xuất khẩu thô không qua chế biến nên mang lại giá trị kinh tế không cao. Vì dụ với than đá cục nặng, giá xuất khẩu từ 180  220 USD/tấn, nhưng nếu qua chế biến thành than đá nặng có kìch thước hạt từ 0,6  8,0 mm thí giá xuất khảu lên tới 250  280 USD/tấn.

Mặc dù có giá bán cao, trong xuất khẩu cũng không thể lấy than cám có giá bán rất thấp chỉ vào khoảng 100  140 USD/tấn để sàng phân loại ra than đá có kìch thước hạt từ 0,6  8,0 mm. Ví trong than cám có lẫn nhiều bụi đất làm giảm chất lượng (đặc biệt là nhiệt trị và có các thành phần khác không phải than). Than đá là loại vật liệu có cấu tạo vô định hính, độ bền rất thấp nhưng độ cứng rất cao. Theo Nguyễn Đính Tuyển, đường cong phân bố các phần tử khi nghiền than đá có dạng đường cong lôgarit [6] hay sản phẩm nghiền bởi tác động va download by : skknchat@gmail.com 2 đập sẽ sinh ra nhiều phần tử có kìch thước bụi bột.

Ví vậy với máy nghiền búa thông thường dùng nghiền than đá thí sản phẩm nghiền có tỉ lệ các phần tử nghiền kìch thước bé rất cao, ví vậy sau khi nghiền phải chi phì nhiều cho công việc phân loại. Đồng thời những sản phẩm nghiền có kìch thước quá nhỏ lại trở thành thứ phẩm vừa gây bụi tạo nguồn ô nhiễm, vừa làm thất thoát sản phẩm nên không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do việc ứng dụng nguyên lý nghiền búa không mang lại hiệu quả kinh tế, nhiều cơ sờ chế biến than đá trong nước đã áp dụng các nguyên lý nghiền khác như nghiền trục, chậu con lăn, …để hạn chế lực va đập gây bụi bột. Mặc dù các nguyên lý nghiền này có giảm tỉ lệ sản phẩm nghiền than đá dạng bụi bột, nhưng vẫn còn cao.

Mặt khác do than đá là loại vật liệu có độ cứng cao (nên cũng rất giòn, dễ vỡ vụn), làm nhanh hư hỏng các chi tiết tạo lực nghiền như bề mặt trục nghiền. Đồng thời các nguyên lý nghiền này cho mức tiêu thụ điện năng lớn, năng suất thấp. Ví vậy, việc nghiên cứu tím ra mô hính máy nghiền than đá hợp lý theo yêu cầu công nghệ để từ đó xác định một số thông số tối ưu cho mô hính có tình cấp thiết cao, ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Được sự chấp thuận của phòng Sau đại học, khoa Cơ điện và Công trính, Ban Giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội và dưới sự hướng dẫn của PGS.

Trần Thị Thanh, tôi xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định mô hình máy nghiền than đá và một số thông số tối ưu cho mô hình”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Lựa chọn mô hính máy nghiền than đá và một số thông số kết cấu và công nghệ tối ưu của máy để ứng dụng vào sản xuất tại công ty Cổ phần Trà Bắc Thành phố Trà Vinh tỉnh Trà Vinh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế kỹ thuật trong chế biến than đá xuất khẩu của doanh nghiệp. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là quá trính và thiết bị nghiền than đá phục vụ chế biến than đá xuất khẩu. download by : skknchat@gmail.com 3 Phạm vi nghiên cứu về thiết bị là hệ thống nghiền than đá hoàn chỉnh có bộ phận nghiền làm việc theo nguyên tắc kiểu búa va đập tự do.

Phƣơng pháp nghiên cứu Áp dụng các phương pháp điều tra thống kê, tra cứu tài liệu để nghiên cứu phần nội dung tổng luận và cơ sở lý luận của đề tài. Dựa trên kết quả nghiên cứu tổng quan và vận dụng lý thuyết tình toán máy nghiền búa, lý thuyết tình toán vìt tải, lý thuyết tình toán xyclon, lý thuyết tình toán bộ phận lọc túi vải để xác định mô hính máy nghiền than đá theo yêu cầu công nghệ sản xuất chế biến than đá. Áp dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm (QHTN) để xây dựng hai mô hính toán học nhằm điều khiển quá trính công nghệ nghiền than đá yêu cầu là tỷ lệ cấu tử bột nghiền có kìch thước từ 0,6  8 mm TL [%] và chi phì điện năng riêng để nghiền Ar [kWh/t]. Các thông số tối ưu hóa TƯH được xác định bằng tối ưu hóa các mô hính toán học được lập theo phương pháp TƯH đơn và đa mục tiêu.

Quá trính tình toán TƯH được tiến hành trên máy tình điện tử bằng phần mềm của các tác giả Nguyễn Như Nam, Trần Thị Thanh, Nguyễn Trì Tấn (1998) và kiểm tra lại bằng thực nghiệm. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  Ý nghĩa khoa học của đề tài là: + Xây dựng được hai mô hính toán học mô tả công nghệ nghiền than đá phục vụ chế biến than đá cho xuất khẩu sang Nhật Bản làm nguyên liệu cho các ngành xử lý nước và năng lượng là tỷ lệ cấu tử bột nghiền có kìch thước từ 0,6  8 mm TL [%] và chi phì điện năng riêng để nghiền Ar [kWh/t]. + Điều khiển “tĩnh” quá trính công nghệ nghiền than đá phục vụ chế biến than đá cho xuất khẩu. + Xác định được các thông số tối ưu hóa cho quá trính và thiết bị nghiền than đá cho máy nghiền than đá MNTĐ – 2 do công ty TNHH.

Sản xuất – Thương mại – download by : skknchat@gmail.com 4 Cơ khì – Như Thành chế tạo chuyển giao lắp đặt tại công ty Cổ phần Trà Bắc Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.  Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là: Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng trực tiếp vào sản xuất chế biến than đá tại công ty Cổ phần Trà Bắc Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã nâng cao được hiệu quả chế biến than đá phục vụ yêu cầu xuất khẩu sang Nhật Bản làm nguyên liệu cho các ngành xử lý nước và năng lượng. download by : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể và ứng dụng máy nghiền than đá vào sản xuất ở ngoài nƣớc 1.

Tổng luận các công trình đã công bố về quá trình nghiền vỡ vật thể Quá trính nghiền là một trong những quá trính cơ học được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành sản xuất công nghiệp như chế biến thực phẩm, dược phẩm cho người và gia súc, khai thác mỏ, công nghiệp hóa chất,…Ví vậy lý thuyết nghiền nói chung và cho từng nguyên lý nghiền được xây dựng thành hệ thống hoàn chỉnh. Với mục đìch xác định chi phì năng lượng phục vụ cho việc tình toán thiết kế máy nghiền, nên các thuyết nghiền lần lượt ra đời. Năm 1867 nhà bác học người Đức P.Ritingon [6] đã đề xuất thuyết bề mặt với nội dung: "Công dùng cho quá trính nghiền với bề mặt mới tạo thành của vật liệu đem nghiền". Biểu diễn định luật nghiền diện tìch dưới dạng biều thức toán học là: As  f S  [J] (1.1) Trong đó : As – công chi phì để nghiền vỡ vật thể, tạo bề mặt mới, [J]; S – diện tìch bề mặt mới được tạo thành (sự gia tăng diện tìch riêng bề mặt).

Thuyết diện tìch của P.Ritingon tương đối đúng với các quá trính nghiền khi sản phẩm nghiền có dạng bột. Tuy nhiên khi nghiền cho sản phẩm có kìch thước lớn trong các ngành sản xuất than đá, hay đá làm vật liệu xây dựng, giao thông thí biều thức (1.1) có sai số lớn. Phát hiện bằng thực nghiệm cho thấy thuyết diện tìch có sai số lớn khi nghiền cho sản phẩm nghiền có kìch thước lớn ( nghiền thô), năm 1874 nhà bác học người Nga V.Kirpitrev đề xuất thuyết thể tìch và được giáo sư người Đức Ph.Kik kiểm tra bằng thực nghiệm trên máy nghiền kiểu búa vào năm 1885 [6]. Nội dung cơ bản của thuyết thể tìch là : "Công cần thiết để nghiền vật liệu tỉ lệ thuận với mức biến đổi thể tìch của vật liệu".

Biểu thức biểu diễn thuyết nghiền thể tìch là: download by : skknchat@gmail.2) Trong đó : Av – công chi phì để nghiền vỡ vật thể, [J]; V – phần thể tìch vật thể bị biến dạng. Phần thể tìch bị biến dạng V lại tỉ lệ thuận với thể tìch ban đầu V của tất cả các cục vật liệu, nghĩa là V  k1. Cho nên : Av = k.4) Trong đó: k1,k2 – các hệ số tỉ lệ trong các công thức theo thuyết thể tìch. m – khối lượng cục vật liệu nghiền.

Trái ngược với thuyết diện tìch, thuyết thể tìch lại có sai số lớn khi giải thìch về chi phì năng lượng cho quá trính nghiền mịn đến siêu mịn, đặc biệt là cho các ngành sản xuất xi măng, bột đá mịn vốn rất thịnh hành trong thời kỳ này. Ví vậy nằm 1952, nhà bác học người Đức Ph.Bon [6] đã đề xuất một thuyết nghiền thứ ba để dung hoà hai thuyết trên. Nội dung của thuyết dung hoà cho rằng:" Công nghiền tỉ lệ với trung bính nhân giữa thể tìch (V) và bề mặt (S) của vật liệu đem nghiền".5) Sau khi biến đổi ta nhận được: Adh = kdh  1  1  (1.6)  d D Sau này còn có công trính nghiên cứu của nhà bác học Nga A.Rungbixt (1956) và nhà bác học người Mỹ R. Các nhà bác học này đã giới thiệu phương trính: d dA = -cd (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ