Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận các công trình đã công bố về máy bón phân chăm sóc cây cao su đã phát tán Trước thập những năm 1990 công việc chăm sóc cao su bao gồm làm cỏ (thường kết hợp phòng cháy), bón phân, phun thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ dịch bệnh. Công việc làm cỏ thường dùng máy phạt cỏ (đeo vai hay liên hợp với máy kéo). Vào đầu mùa mưa, khi cây cao su chưa phát tán, người ta thường dùng liên hợp máy kéo với cày chảo lật rạ (6 hoặc 7 chảo) cày úp diệt cỏ kết hợp canh tác những cây ngắn ngày như bắp, đậu, mè,…Khi cây cao su vào cuối giai đoạn kiến thiết cơ bản trở đi, do tán đã rộng thì công việc cày đất chỉ nhằm diệt cỏ.
Thường giữa hai hàng đi 2 lần dạng úp sống trâu hay lồng máng xen kẽ theo đợt chăm sóc. Phương pháp diệt cỏ bằng cày đất cho năng suất cao, đơn giản nhưng làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây cao su như làm đứt rễ, gây thoái hóa đất do bị mưa làm xói mòn, vi phạm quy định chăm sóc cao su. Ngày nay phương pháp này chỉ dùng cho cây cao su mới trồng, thực hiện việc xen canh để phủ xanh mặt đất nhằm chống xói mòn, hạn chế cỏ dại phát triển và ngăn ngừa cháy rừng cao su trồng. Cũng trong giai đoạn này, việc bón phân chăm sóc cho cây cao su chủ yếu thực hiện bằng thủ công kết hợp công cụ cầm tay như cuốc, xẻng để tạo rãnh và lấp đất.
Một số nông trường đã sử dụng máy tung phân vôi kiểu đĩa vung để rải phân trên khắp mặt đồng, sau đó dùng cày chảo lật rạ cày lấp đất. Ưu điểm của phương pháp này cho năng suất cao, giá thành hạ và có những nhược điểm là phân được rải ở gần các hàng cây không được lấp, vì phải cày đất cách gốc 1 m. Không những thế, phân bón có thể rơi vào bát đựng mủ (đối với vườn cây đang khai thác nếu không úp bát chứa mủ thu hoạch xuống). Vì phải cày lấp đất nên vi phạm quy định về yêu cầu nông học chăm sóc cao su.
Đó là chưa kể đến việc chăm sóc phức tạp do phải hai lần liên hợp máy đi lại trên đồng, làm tăng chi phí chăm sóc bón phân cho cây download by : skknchat@gmail.com 6 cao su. Phương pháp chăm sóc bón phân này được ngành Cao Su Việt Nam khuyến cáo không nên sử dụng. Vào năm 2010, một nhóm tác giả thuộc Binh Đoàn 14 (Bộ Quốc Phòng) đã đề xuất sử dụng máy cày lật rạ có gắn thêm bộ phận bón phân để thực hiện chăm sóc bón phân cho cây cao su đã phát tán. Tuy nhiên giải pháp này vẫn còn tồn tại là: mặt lô cao su vẫn còn bị cày xới nhiều, làm đứt rễ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển cây cao su.
Mặt khác, việc bón phân theo yêu cầu quy định còn bị hạn chế do kết cấu bón phân không phù hợp, liên hợp máy thường xuyên phải bổ sung phân bón. Trong khi cây cao su thường được trồng thành từng lô thửa có diện tích lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm ha. Vì vậy mà đề xuất này chưa được áp dụng vào các đơn vị canh tác cây cao su ở trong cả nước. Giai đoạn 2010 đến nay, đã có một số thử nghiệm tự phát của một số doanh nghiệp cơ khí ở Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất mô hình máy bón phân cho cây cao su cho cả hai dạng loại móc và loại treo.
Phạm Tú Anh Vũ (Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh) giới thiệu mẫu máy bón phân chăm sóc cao su liên hợp với máy kéo 4 bánh bơm cỡ 1,4 tấn (hình 1. Máy thực hiện rải phân xuống rãnh được rạch với độ sâu tới 15 cm nằm giữa hai hàng cao su.1: Máy bón phân cho cây cao su của KS. Hồ Chí Minh) Tồn tại của mẫu máy của KS. Phan Anh Vũ là thùng chứa bằng thép đen thông thường, nên nhanh bị rỉ sét, phân chứa trong thùng bị nén chặt nên phân không được rải đều hoặc thậm chí không rải được xuống rãnh.
Máy làm việc ở dạng download by : skknchat@gmail.com 7 “treo”, nên chỉ thích hợp cho vườn cao su dạng “tiểu điền”. Vì vậy máy không triển khai vào thực tế sản xuất được. Cũng trong năm 2011, kỹ sư Nguyễn Trọng Hòa thuộc Nông trường Thành Long (thuộc công ty Mía Đường BOURBON Tây Ninh) đã giới thiệu mẫu máy bón phân chăm sóc cho cây cao su loại treo liên hợp với máy kéo 4 bánh bơm cỡ 1,4 tấn (hình 1. Cấu tạo của máy gồm 2 thùng chứa với bộ phận rải phân kiểu vít tải.
Bộ phận rạch đất kiểu lưỡi cày ngầm không cánh. Phân được đưa xuống rãnh và tự lấp. Ưu điểm của máy đơn giản, thích hợp cho vườn cao su dạng tiểu điền. Nhược điểm của máy tương tự như máy của KS.
Phan Anh Tú thiết kế là không có khả năng bón phân ướt vì dễ bị nghẽn phân ở vít tải và ống dẫn. Lượng chứa phân trong thùng ít làm ảnh hưởng đến năng suất và quản lý khi rừng cao su xa kho chứa.2: Máy bón phân cho cây cao su của anh Nguyễn Trọng Hòa. Năm 2012, công ty VINAMACH (Tp. Hồ Chí Minh) đã giới thiệu trên thị trường máy bón phân cho cây cao su loại móc liên hợp với máy kéo bánh bơm cỡ 1,4 tấn (hình 1.
Máy gồm có các bộ phận: thùng chứa phân bằng thép đen thông thường có dung tích chứa 0,6 m3, kết hợp làm nhiệm vụ đảo trộn hỗn hợp bón; bộ phận rải phân kiểu băng tải đai; bộ phận lấp phân dạng xới trộn đất. Truyền động cho bộ phận trộn, rải phân và lưỡi xới lấy từ trục thu công suất. Khi làm việc phân download by : skknchat@gmail.com 8 được rải xuống đất thành rải và được lưỡi xới đi sau xới trộn với đất. Tồn tại của loại máy xới bón này là ở chỗ vi phạm quy định chăm sóc cao su do xới đất rộng và sâu làm đứt rễ, làm tăng mức độ chống xói mòn đất.
Với cách bón và lấp đất khi bón phân gặp mưa sẽ làm thất thoát phân bón. Đó là chưa kể đến kết cấu máy không phù hợp về mặt động lực học do bộ phận chuyển động quay là trục xới đất đặt xa máy kéo lại ở dạng treo. Giảm khả năng chịu tải của khung, gây rung máy lớn. Ngoài ra, vì bánh xe tựa có kích thước bé, chưa tính đến áp lực trên nền, nên việc di chuyển của liên hợp máy còn gây nên phá vỡ kết cấu đất trồng.
Các tồn tại khác tương tự như các máy bón phân của hai tác giả Phan Anh Vũ và Nguyễn Trọng Hòa. Chính vì vậy mẫu máy này chưa được Tập đoàn Cao su Việt Nam chấp nhận đưa vào sản xuất thử nghiệm.3: Máy bón phân cho cây cao su Hình 1.4: Máy bón phân cho cây cao của công ty VINAMACH (Tp. Hồ Chí su của anh Trần Quốc Hải. Năm 2012, anh Trần Quốc Hải, chủ cơ sở sản xuất cơ khí ở huyện Tân Châu tỉnh Tây Ninh đã giới thiệu mẫu máy bón phân cho cây cao su loại treo liên hợp với máy kéo 4 bánh bơm cỡ 1,4 tấn (hình 1.
Thực chất đây là loại máy chép mẫu nguyên bản máy tung phân vôi của công ty KUBOTA (Nhật Bản sản xuất ) với tên gọi mới là máy bón phân chăm sóc cho cây cao su. Máy thực hiện rải đều phân trên bề mặt đất, nên không đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật nông học. Ở những nước phát triển như Braxin, Mãlaixia,. có sự khác biệt với Việt Nam về công nghệ bón phân chăm sóc cho cây cao su.
Phân bón ở dạng hạt, tinh thể download by : skknchat@gmail.com 9 và dạng bột được bón dưới dạng phun.5 giới thiệu mẫu máy bón phân theo kiểu phun do Mãlaixia sản xuất.5: Máy bón phân theo kiểu phun Turbo Mini 300 do Mãlaixia sản xuất. Giới thiệu đặc trưng kỹ thuật của các máy bón phân theo kiểu phun do Mãlaixia sản xuất. Các đặc trưng kỹ thuật, Mã hiệu đơn vị đo Turbo Mini 300 Turbo-Spin 650 Turbo-Spin 850 Dung tích bồn chứa , lít 300 650 850 Trọng tải tương ứng, kg 300 650 850 Vật liệu bồn chứa sợi thủy tinh và sợi thủy tinh và Sợi thủy tinh và nhựa nhựa nhựa Hình dáng bồn chứa Ovan / vuông Vuông Vuông, mở rộng miệng bồn Độ rộng đường phun, m 15 – 18 15 – 25 15 – 25 Tốc độ trục thu công suất 540 540 540 yêu cầu , vg/ph download by : skknchat@gmail. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.
Cây cao su Cây cao su có tên gọi Hevea brasiliensis, là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Đại kích (Euphorbiaceae) chi Hevea. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ-latex) mang lại nguồn thu lớn. Cây cao su có thể cao tới trên 20m. Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ.
Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm. Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH, SPTR, CEXO, Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.
Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha cho sản lượng 3. Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh. Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ) với diện tích lên đến khoảng 6. Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.
Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau 1985 do các nông trường quốc doanh. Từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su.