CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO PHÁ SẢN. Lý do chọn đề tài. Mục tiêu của đề tài.
Mục tiêu tổng quát. Mục tiêu cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Cơ sở lý luận và lý thuyết sử dụng trong bài nghiên cứu. Định nghĩa phá sản. Lý thuyết về soft - set. Định nghĩa về tập hợp mềm (Tập hợp mềm Theory).
Lý thuyết phương pháp lọc truyền thống (Traditional Soft Set – TSS). Lý thuyết theo phương pháp tiên tiến (Novel Soft Set – NSS). THỰC TRẠNG VỀ DỰ BÁO PHÁ SẢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 4 2. Những nghiên cứu ở ngoài Việt Nam.
Những nghiên cứu sử dụng các mô hình dự báo dựa trên các tỷ số tài chính kế toán 11 2. Những nghiên cứu sử dụng các mô hình dự báo dựa vào tỷ số tài chính thị trường 14 2. Những nghiên cứu sử dụng các mô hình dự báo dựa trên các tỷ số tài chính kế toán kết hợp thị trường. Những nghiên cứu ở Việt Nam.
GIẢI PHÁP DỰ BÁO PHÁ SẢN THÔNG QUA TỐI ƯU HÓA CHỌN BIẾN VÀ MÔ HÌNH – ÁP DỤNG SOFT SET. Phương pháp chọn biến. Biến phụ thuộc (Special Treatment – ST). Biến độc lập.
Phân tách dữ liệu nghiên cứu. Phân loại công ty. Phân tách các công ty chạy mô hình. Xác định thời điểm dự báo.
Lọc các tỷ số tài chính dựa trên lý thuyết tập hợp mềm. Bảng phân loại tác động của từng biến. Rút gọn tham số theo phương pháp NSS. Mô hình sử dụng trong bài nghiên cứu.
Mô hình hồi quy Logistic. Mô hình sử dụng phân lớp dữ liệu. Mô hình NN. Mô hình SVM.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Hồi quy hệ số Beta. Chọn lọc tỷ số tài chính. Dựa trên cách chọn biến của Nguyễn Trọng Hòa (Học viện tài chính) năm 2010 với mô hình xếp hạng tín dụng z-score (NTH).
Dựa trên phương pháp TSS. Dựa trên phương pháp NSS. Kết quả tính chính xác của các mô hình. Kết quả tính chính xác dựa vào mô hình hồi quy Logistic.
Phương pháp ACC. Phương pháp kiểm định hệ số thống kê:. Kết quả tính chính xác dựa vào mô hình NN. Kết quả tính chính xác dựa vào mô hình SVM.
Kiểm tra tính vững. Kết quả tổng hợp. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 76 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Ký Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt hiệu Average Accuracy Độ chính xác trong mô hình dự báo ACC Cross-validiation Nhóm phân loại chéo Decision Tree Cây quyết định DT Grid-search Tìm kiếm dạng lưới Sở giao dịch chứng khoán HOS Ho Chi Minh Stock Exchange Tp.
Hồ Chí Minh E Logistic regression Hồi quy Logistic LR Multiple Discriminant Analysis Phân tích đa biệt số MDA Neural Network Mạng thần kinh nhân tạo NN Non Special Treatment Khỏe mạnh về tài chính NST Novel Soft Set Phương pháp tiên tiến NSS Soft-Set Lý thuyết tập mềm Special Treatment Phá sản ST Support Vector Machine Kỹ thuật vectơ hỗ trợ SVM Taiwan Economic Journal Tạp chí kinh tế Đài Loan TEJ Taiwan Stock Exchange Tập đoàn giao dịch cổ phiếu Đài TSEC Corporation Loan Testing data Tập hợp dữ liệu kiểm tra Traditional Soft Set Phương pháp truyền thống TSS Training data Tập hợp dữ liệu thử nghiệm True Nagative Dự báo kiệt quệ chính xác TN True Possitive Dự báo khỏe mạnh chính xác TP DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2. Các biến sử dụng trong bài nghiên cứu của Phạm Hữu Hồng Thái. 24 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3. Sơ đồ tóm tắt phương pháp nghiên cứu.
Mô tả kiểm định quá khứ (Back-Testing).1 Đường cong ROC của NTH, TSS và NSS trong t-1.2 Đường cong ROC của NTH, TSS và NSS trong t-2. TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO PHÁ SẢN 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu mở rộng về mô hình dự báo phá sản của doanh nghiệp như Beaver (1966), Altman (1968), Ohlson (1980), Shumway (2001), Agarwal và Taffler (2008), Fengyi Lin và các cộng sự (2013), tuy nhiên các mô hình này chỉ sử dụng dữ liệu kế toán trong lịch sử hoặc dựa vào thông tin thị trường chứng khoán để dự báo tình trạng không trả được nợ của doanh nghiệp. Do đó, các mô hình dự báo này không thể phát huy được hết khả năng dự báo phá sản.
Vì vậy, xuất hiện nhu cầu về một tập hợp dữ liệu tốt hơn nhằm giúp các nhà quản lý đưa ra các hành động kịp thời và đúng đắn, giúp công ty tránh khỏi tình trạng phá sản và từ đó gia tăng giá trị công ty. Đồng thời, việc dự báo sớm cũng giúp cho các chủ nợ ngăn chặn được một số chi phí liên quan đến việc nộp đơn phá sản. Các nhà quản lý cần những thông tin về việc dự báo chính xác khả năng rơi vào tình trạng phá sản để đưa ra những quyết định phù hợp nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của công ty. Những nhà cho vay và các nhà đầu tư trong khu vực doanh nghiệp cần những thông tin kịp thời về khả năng vỡ nợ của các doanh nghiệp trong quá trình đưa quyết định cho vay và đầu tư vào các danh mục đầu tư của mình.
Việc dự báo khi nào thì doanh nghiệp có nguy cơ phá sản đã trở thành trọng tâm của nghiên cứu phân tích kinh doanh và có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý, cổ đông, cũng như các chủ nợ. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều bài nghiên cứu về dự báo phá sản nhưng đó có phải là những mô hình, cách chọn biến tối ưu hay chưa khi sự thay đổi, cập nhật kiến thức không ngừng biến động. Để trả lời câu hỏi này tác giả ứng dụng lý thuyết tập mềm để có sự so sánh với các cách chọn biến cũng như các mô hình trước đó, cuối cùng là kết luận lý thuyết tập hợp mềm có khả dụng và tối ưu trong việc dự báo phá sản ở Việt Nam hay không. Mục tiêu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát Tối ưu hóa dự báo phá sản của doanh nghiệp qua việc ứng dụng lý thuyết tập hợp mềm để chọn lọc ra bộ tỷ số tài chính tốt nhất cho việc chạy mô hình dự báo. Mục tiêu cụ thể Dựa trên phương pháp nghiên cứu của Wei Xu và các cộng sự (2014), việc thực hiện đề tài nhằm tìm ra một bộ tỷ số tài chính tối ưu được xây dựng dựa trên lý thuyết tập mềm (Soft - set). Qua đó nhằm tìm kiếm, kế thừa những mô hình dự báo phá sản đã được phát triển trên thế giới trong thời gian qua để ứng dụng vào nghiên cứu thực tiễn dự báo sớm nguy cơ phá sản cho các DN Việt Nam nhằm chọn lọc các tỷ số tài chính có ý nghĩa nhất, ứng với mô hình phù hợp nhất trong việc dự báo phá sản của doanh nghiệp dựa trên lý thuyết tập hợp mềm. Ngoài ra việc kiểm tra lý thuyết tập hợp mềm có phải là tối ưu chưa và tính vững của bộ lọc biến qua lý thuyết tập hợp mềm cũng là mục tiêu mà bài nghiên cứu muốn hướng tới để làm sáng tỏ.
Câu hỏi nghiên cứu Bài nghiên cứu tập trung giải quyết các câu hỏi: - Thứ nhất, lý thuyết tập hợp mềm có hoạt động hiệu quả với dữ liệu từ các tỷ số tài chính được xây dựng tài thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? - Thứ hai, lý thuyết tập hợp mềm có phải là bộ lọc biến tối ưu hay chưa? - Thứ ba, mô hình ước lượng theo các tỷ số tài chính được chọn lọc bởi lý thuyết tập hợp mềm có vững qua thời gian và đáng tin cậy hơn so với các tỷ số được sử dụng ở các phương pháp dự báo phá sản đã sử dụng trước đây hay không? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 Trước hết, người nghiên cứu cần xác định đối tượng nghiên cứu. Dự báo phá sản là một chủ đề rộng. Những ngành nghề khác nhau như ngân hàng, du lịch, công ty nhỏ, hoặc công ty bất động sản sẽ có những cách tiếp cận cũng như kết quả khác nhau.
Bài nghiên cứu không đi sâu vào từng ngành nghề cụ thể hay những nhóm ngành nghề bởi như thế sẽ rất phức tạp và cần có những chuyên đề nghiên cứu sâu hơn. Trước hết, dựa trên các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE), bài nghiên cứu tổng hợp 52 công ty phá sản trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016 (Định nghĩa phá sản được giới thiệu trong mục 2.1), tương ứng là 52 công ty khỏe mạnh ngẫu nhiên được lựa chọn trong giai đoạn này. Với cỡ mẫu 52x52, nếu năm t là năm phá sản thì dữ liệu sẽ được lấy ở năm t-1 và năm t-2 tương ứng; tổng số 208 quan sát và 4700 biến quan sát theo năm, trung bình khoảng 50 biến quan sát hàng năm cho mỗi công ty trong khoảng thời gian 2009-2015, với thời điểm cụ thể được xác định là 2 năm trước khi xảy ra sự kiện (khỏe mạnh hoặc kiệt quệ).
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã qua kiểm toán của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE). CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DỰ BÁO PHÁ SẢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2. Cơ sở lý luận và lý thuyết sử dụng trong bài nghiên cứu 2.
Định nghĩa phá sản Phá sản là gì? Đã có rất nhiều định nghĩa ở các bài nghiên cứu trước đây: Beaver (1966) định nghĩa tình trạng phá sản là việc không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn của công ty. Hay Wruck (1990) định nghĩa phá sản là tình huống mà dòng tiền của một công ty không đủ để trang trải các nghĩa vụ tài chính hiện hành, các nghĩa vụ này là nợ phải thanh toán cho nhà cung cấp và nhân viên, tiền thanh toán lãi vay và chủ nợ, các nghĩa vụ khác. Khác với hai bài nghiên cứu của Beaver (1966) và Wruck (1990), trong bài nghiên cứu của mình, Asquith, Gertner và Scharfstein (1994) định nghĩa phá sản dựa trên tỷ lệ chi trả lãi vay. Theo đó, một công ty được phân loại là phá sản nếu EBITDA thấp hơn so với chi phí tài chính (chi phí lãi vay) được báo cáo trong hai năm liên tiếp bắt đầu từ năm phát hành trái phiếu lãi suất cao; hoặc trong bất kỳ năm nào khác có EBITDA thấp hơn 80% chi phí lãi vay của công ty đó.