Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan phương pháp gia công bằng tia lửa điện Năm 1943, thông qua các nghiên cứu về tuổi bền của các thiết bị phóng điện, hai vợ chồng người Nga Lazarenko đã tìm ra phương pháp gia công bằng Tia lửa điện. Họ sử dụng tia lửa điện để hớt đi 1 lớp vật liệu mà không phụ thuộc vào độ cứng của vật liệu đó.Khi các tia lửa điện phóng ra thì một lớp vật liệu trên bề mặt phôi sẽ bị hớt đi bởi 1 quá trình điện - nhiệt thông qua sự nóng chảy và bốc hơi Kim loại. Từ đó đến nay quá trình hớt vật liệu trong gia công tia lửa điện vẫn được coi là phức tạp liên quan đến khoảng cách khe hở phóng điện, đến thông tin về kênh plasma, về sự hình thành của cầu phóng điện giữa 2 điện cực, sự ăn mòn của cả 2 điện cực, .các nghiên cứu về hiện tượng phóng điện của các nhà khoa học đã làm cho công nghệ gia công tia lửa điện có những phát triển lớn trong những năm gần đây và đã ra đời thêm một số phương pháp gia công dùng nguyên lý của phương pháp gia công tia lửa điện [2]. Đặc điểm của gia công tia lửa điện.
Gia công bằng tia lửa điện là phương pháp gia công bằng cách phóng điện ăn mòn trên cơ sở tác dụng nhiệt của xung điện tạo ra do sự phóng điện, đặc điểm của phương pháp này đó là: - Điện cực (đóng vai trò dụng cụ) lại có độ cứng thấp hơn nhiều lần so với độ cứng của phôi.Điện cực là đồng, graphit, còn phôi là thép đã tôi hoặc hợp Kim cứng. - Vật liệu dụng cụ và vật liệu phôi đều phải dẫn điện. - Khi gia công phải sử dụng một chất lỏng điện môi, đó là nước hoặc một dung dịch không dẫn điện ở điều kiện bình thường. Có hai phương pháp gia công tia lửa điện được sử dụng rộng rãi trong công nhiệp đó là gia công tia lửa điện dùng cực định hình và gia công tia lửa điện bằng cắt dây.
6 Phương pháp gia công bằng tia lửa điện tạo được các bề mặt định hình phức tạp là đường thẳng, đường cong, bề mặt profin phức tạp,…độ bóng bề mặt cao (Ra = 1.25µm) và độ chính xác cao (IT5). Thể hiện các vật liệu có thể gia công được bằng tia lửa điện. Bản chất vật lý của quá trình phóng điện phóng tia lửa điện.Sơ đồ nguyên lý gia công tia lửa điện Một điện áp được đặt giữa điện cực và phôi.Không gian giữa 2 điện cực đó được điền đầy bởi một chất lỏng cách điện gọi là chất điện môi. (Dielectric) Cho 2 điện cực áp lại gần nhau, đến một khoảng cách nào đó thì xảy ra sự phóng Tia lửa điện.Một dòng điện xuất hiện 1 cách tức thời.
Khi phóng Tia lửa điện, các điện cực không tiếp xúc với nhau.Nếu chúng chạm vào nhau thì sẽ không có tia lửa điện mà sẽ xảy ra một dòng ngắn mạch, có 7 hại đối với quá trình gia công.Nếu khe hở lớn quá thì lại không thể xảy ra sự phóng điện, làm giảm năng suất gia công.3 cho thấy diễn biến của điện áp và dòng điện ở một máy xung định hình, được sinh ra bởi một máy phát tĩnh, trong những khoảng thời gian xác định của chu kỳ xung. Đặc điểm của đồ thị này là dòng điện ie của xung bao giờ cũng xuất hiện trễ hơn một khoảng thời gian t d (độ trễ đánh lửa) so với thời điểm bắt đầu có điện áp máy phát u i. ue và ie là các giá trị trung bình của điện áp và dòng điện khi phóng tia lửa điện. t e - Dộ kéo dài xung t d - Độ trễ đánh lửa t i - Độ kéo dài xung máy xung máy phát t 0 - Khoảng cách xung t p - Thời gian chu kỳ xung U i - Điện áp máy phát mở U e - Điện áp phóng tia lửa điện i e - Dòng phóng tia lửa điện Hình 1.
Đồ thị điện áp và dòng điện trong một xung phóng Trong một chu kì phóng điện được phân biệt 3 pha: - Pha I: Đánh lửa. Máy phát tăng điện áp khởi động qua khe hở. Dưới ảnh hưởng của điện trường, từ cực âm (catot) bắt đầu phát các điện tử và chúng bị hút vế phía cực dương (anot). Sự phát điện tử gây ra sự tăng cục bộ tính dẫn điện của chất điện môi ở khe hở.
Các bề mặt 2 bên điện cực hoàn toàn phẳng.Điện trường sẽ mạnh nhất ở hai điểm gần nhau nhất.Chất điện môi bị ion hóa. Tất cả các phần tử dẫn điện (điện tử 8 và ion dương) đều hội tụ quanh điểm này trong khoảng không gian ở giữa hai điện cực và chúng tạo nên một cái cầu. Một kênh phóng điện đột nhiên được hình thành ngang qua cầu.Sự phóng điện được bắt đầu. Sự đánh lửa - Pha II: Sự hình thành kênh phóng điện.
Ở thời điểm phóng điện, điện áp bắt đầu giảm (hình 1. Số lượng các phần tử dẫn điện tăng lên một cách khủng khiếp và dòng điện bắt đầu chạy giữa các điện cực. Dòng điện này cung cấp một mật độ năng lượng khổng lồ làm cho dung dịch điện môi bốc hơi cục bộ. Áp suất trong các bong bong hơi sẽ đẩy chất lỏng điện môi sang hai bên.
Nhưng do có độ nhớt nên chất điện môi tạo ra một sự cản trở, hạn chế sự lớn lên của kênh phóng điện giữa các cực. Sự hình thành kênh phóng điện - Pha III: Nóng chảy và bốc hơi vật liệu 9 Lõi của bọt hơi bao gồm một kênh plasma.Plasma này là một chất khí có lẫn các điện tử và ion dương ở áp suất rất cao (khoảng 1kbar) và nhiệt độ cực lớn (10.Kênh plasma này được tạo thành đầy đủ thì điện áp U e là một hằng số vật lý phụ thuộc vào sự phối hợp vật liệu anot/catot và bằng 25V đối với cặp vật liệu đồng/thép. Chất điện môi giữ kênh plasma và cũng là giữ cho năng lượng có một độ tập trung cục bộ.Sựva chạm của các điện tử lên anot và của các ion dương lên catot làm nóng chảy và bốc hơi các điện cực. Máy phát sẽ ngắt dòng điện sau khi đã diễn ra một xung có hiệu quả.Điện áp bị ngắt đột ngột.Kênh phóng điện biến mất.Áp suất cũng bị mất đột ngột.
Điều này khiến cho kim loại nóng chảy bất ngờ, bị đẩy ra khỏi kênh phóng điện và bốc hơi. Sự phóng điện có thể kéo dài từ vài micro giây đến vài trăm micro giay, tùy thuộc vào công dụng. Giữa các xung có một độ trễ t 0 (là thời gian giữa các xung), cho phép chất điện môi thôi ion hóa và để có thời gian vận chuyển phoi ra khỏi khe hở giữa các điện cực nhờ dòng chảy của chất điện môi.Ở đây, chất điện môi của vật liệu điện cực bị tách ra. Mỗi bề mặt điện cực đều để lại một “miệng núi lửa” bị ăn mòn, nhưng sự ăn mòn này không như nhau.
Cực nào ăn mòn nhiều hơn (thường là cực dương) thì sẽ dành cực đó cho phôi. Cực nào ít ăn mòn sẽ được dành cho điện cực. Sự nóng chảy và bốc hơi vật liệu 10 1. Cơ cấu bóc tách vật liệu Các đặc tính tách vật liệu đầu tiên phụ thuộc vào năng lượng tách vật liệu.
Nếu gọi năng lượng tách vật liệu là W e thì ta có đẳng thức sau: W e = U e .1) Trong đó: U e , I e , t e là các giá trị trung bình của điện áp và dòng tia lửa điện được lấy trong khoảng thời gian xung. Do U e là một hằng số vật lý phụ thuộc vào cặp vật liệu điện cực/phôi nên về thực chất, năng lượng tách vật liệu chỉ phụ thuộc vào dòng điện và thời gian xung. Dòng điện tổng cộng trong kênh plasma qua khe hở phóng điện là tổng của dòng các điện tử chạy tới cực dương (anot) và dòng các ion dương chạy tới cực âm (catot). Do khối lượng các ion dương lớn hơn trên 100 lần so với khối lượng của các điện tử, nên có thể bỏ qua tốc độ của các ion dương khi xuất phát các xung điện so với tốc độ của điện tử.
Mật độ điện tử tập trung với bề mặt cực dương (anot) cao hơn nhiều lần so với mật độ ion dương tập trung tới bề mặt cực âm (catot) trong khi mức độ tăng của dòng điện rất lớn trong khoảnh khắc đầu tiên của sự phóng điện. Điều này là nguyên nhân gây ra nóng chảy rất mạnh ở cực dương (anot) trong chu kỳ này. Dòng ion dương chỉ đạt tới cực âm (catot) trong micro giây đầu tiên.Các ion dương gây ra sự nóng chảy và bốc hơi của vật liệu catot. Do đó có hiện tượng điện cực bị mòn.
Vật liệu điện cực khi tiếp xúc với plasma này ở một pha có áp lực cao hơn tới 1kbar và nhiệt độ cực cao tới 10.000 0 C trong kênh plasma. Một lý do quan trọng của sự tống ra vật liệu bị nóng chảy lỏng là sự đột ngột biến mất của kênh plasma khi dòng điện bị ngắt. Ngay tức khắc áp suất tụt xuống bằng áp suất xung quanh sau khi ngắt dòng điện.Nhưng nhiệt độ của chất lỏng lại không tụt nhanh như thế.Điều này gây ra sự nổ và bốc hơi của chất lỏng nóng chảy hiện có.Tốc độ cắt dòng điện và mức độ sụt của xung dòng điện sẽ quyết định tốc độ sụt áp và sự bắt buộc nổ vật liệu chảy lỏng. 11 Vì lượng hớt vật liệu phụ thuộc vào điện áp, cường độ dòng điện và thời gian nên người ta có thể nghiên cứu một cách chính xác tuần tự theo thời gian của điện áp và dòng điện trong lúc phóng tia lửa điện.
Người ta đo điện áp và dòng điện ở các khoảng thời điểm đóng điện (t = 0) đến thời điểm ngắt điện. Vết nứt tế vi bề mặt sau khi gia công tia lửa điện 1- Lớp trắng 2- Lớp tôi cứng 3- Lớp ảnh hưởng nhiệt 4- Lớp không ảnh hưởng Hình 1.7 Vùng ảnh hưởng nhiệt bề mặt phôi 1. Lớp trắng đó là lớp kết tinh lại, với các các vết nứt tế vi do ứng suất dư vì nóng lạnh đột ngột lặp đi lặp lại. Độ kéo dài xung t e càng lớn thì lớp này càng dày.
Lớp bị tôi cứng, với cấu trúc tròn, lớp này có độ cứng tăng vọt (trên 69 HRC) so với kim loại nền. Lớp bị ảnh hưởng nhiệt, do nhiệt độ ở đây đã vượt quá nhiệt độ ôstênit (Fe - Fe 3 C) trong một thời gian ngắn. Độ cứng của lớp này giảm so với lớp tôi cứng, (khoảng 64 HRC). Dưới cùng là lớp không bị ảnh hưởng nhiệt.
Nó trở lại độ cứng bình thường của vật liệu nền.