CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 1. Văn học Việt Nam hiện đại từ góc nhìn văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Người ta có thể hiểu văn hóa như một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như là lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hóa như một trình độ học vấn.
Theo quan niệm phương Tây, “Văn hóa lúc đầu được hiểu là canh tác, trồng trọt (cultus). Có hai loại trồng trọt, một là trồng trọt ngoài đồng (cultusagri) và hai là “trồng trọt tinh thần” tức là sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” [30, tr. Như vậy, có thể hiểu văn hóa gắn liền với quá trình con người tạo r a các sản phẩm về vật chất và tinh thần, gắn liền với quá trình giáo dục đào tạo con người. Theo quan niệm phương Đông, “văn” được hiểu là vẻ đẹp, “hóa” được h iể u là biến đổi, và hai chữ “văn hóa” ghép lại là sự biến cải, thay đổi làm cho đẹp ra.
Quan niệm về văn hóa này của người phương Đông khác so với quan niệm văn hóa của người phương Tây. Nếu người phương Tây thiên về ứng xử với tự nhiên thì người phương Đông thiên về ứng xử xã hội. Sau khái niệm mà E.Tylor đưa ra, đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Chúng tôi thấy định nghĩa về văn hóa mà UNESCO đưa ra mang tính khái quát cao: “Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội.
Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” [30,tr. Đây là định nghĩa mang tính tổng quát, nó nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa nhưng vẫn đảm bảo mang đầy đủ nội hàm định nghĩa về văn hóa. Các nhà nghiên cứu văn hóa cùng các học giả Việt Nam cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong đó, định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam được các nhà nghiên cứu nhắc đến rất nhiều và coi đó là một trong những công cụ hữu ích để tìm hiểu văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [31, tr.
Từ đó, ông đưa ra hệ thống cấu trúc văn hóa gồm 4 tiểu hệ cơ bản: văn hóa 11 nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Theo quan niệm của UNESCO, “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng.” Như vậy, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Nó được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu, các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần d o con người tạo ra. Trong phạm vi của luận văn, để làm công cụ cho việc triển khai vấn đề, chúng tôi đồng ý với cách hiểu về văn hoá theo định nghĩa của PGS.
Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [30, tr. Tiếp cận Tự truyện của Tô Hoài dưới quan điểm văn hóa học Trong lịch sử nghiên cứu văn học, có rất nhiều con đường, nhiều phương thức khác nhau để tiếp cận một tác phẩm văn học như: xã hội học, thi pháp học, nghệ thuật học…Trong đó, phương thức tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã ngày một khẳng định được thế mạnh cũng như tính ưu việt của mình, nhất là trong bối cảnh giao lưu văn hóa mạnh mẽ như hiện nay. Phương pháp tiếp cận này dùng văn hóa là hệ quy chiếu để cảm nhận văn học. Đồng thời, văn học cũng được xem như là một hiện tượng của văn hóa, sản phẩm của văn hóa chứ không đơn thuần là sản phẩm của đạo đức, chính trị… Hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa phải được tiến hành theo những nguyên tắc cụ thể: 1/ Phải đặt văn học trong bối cảnh rộng lớn của văn hóa xã hội hoặc trong sự ảnh hưởng qua lại của văn học đối với các hiện tượng văn hóa khác.
2/ Xem văn học là bộ phận của văn hóa thì văn bản văn học cũng là một sản phẩm văn hóa, vì thế cần giải mã nó trong ngữ cảnh văn hóa. 3/ Văn học là một trong những loại hình nghệ thuật có khả năng bao quát, chạm tới cả mạch ngầm sâu thẳm của đời sống văn hóa cũng như chiều sâu tư tưởng của người nghệ sỹ. Vì vậy cần chú ý đến sự tác động của văn hóa đến với thế giới quan, tâm hồn người nghệ sỹ. 12 Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là hướng tiếp cận ngày càng được chú trọng và mở rộng phát triển theo nhiều hướng khác nhau.
Có hướng nghiên cứu nhằm nhận diện và miêu tả các biểu hiện văn hóa có trong các tác phẩm văn học; cũng có hướng nghiên cứu thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng văn hoá lịch sử của chúng; lại có hướng nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ của các văn bản nghệ thuật, đi tìm hiểu nghĩa và cơ chế kiến tạo nghĩa của nội dung - hình thức của các tác phẩm văn học từ bối cảnh văn hóa - xã hội… Hướng tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hoá giúp ta lí giải trọn vẹn tác phẩm văn học với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó. Góc nhìn văn hóa cho phép người đọc định vị được chỗ đứng của nhà văn trong dòng chảy của lịch sử văn hóa - văn học dân tộc. Phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa có nhiều thuận lợi, bởi nó dẫn nhà phê bình (cũng như người đọc) đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái biết nhiều đến cái biết ít, từ cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy khoa học. Bởi lẽ, văn học với tính cách là một yếu tố của hệ thống văn hóa thì phải chịu sự chi phối hoặc sự quy định (chứ không phải quan hệ nhân quả đơn thuần của quyết định luận) của văn hóa.
Phê bình văn học dù một tác phẩm, tác giả hay một trào lưu đều phải tìm hiểu trước tiên là hệ thống văn hóa mà tác phẩm, tác giả hay trào lưu ấy thuộc vào. Mặt khác, từ góc nhìn văn hóa cho phép ta nhận thức sáng rõ các yếu tố cấu thành của các hiện tượng văn học trong mối liên hệ đa chiều với các hiện tượng văn hóa khác. Bởi có một thực tế không thể phủ nhận, tác phẩm văn học không chỉ có mối liên hệ ý nghĩa giữa các yếu tố nội bộ bên trong mà còn có những mối liên hệ liên văn bản. Vì vậy, tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa sẽ giúp khai mở những cấp độ ý nghĩa mới mẻ, lý giải đúng đắn các hiện tượng văn học, trả lại chỗ đứng chính xác cho nhà văn và tác phẩm.
Tô Hoài- “đời văn, đời người” 1. Tô Hoài –“cuộc phiêu lưu giữa trần ai cát bụi”. Với việc tiếp thu thành tựu đã có từ trước cùng với sự ảnh hưởng của thời đại, dòng văn học Việt Nam đã đạt được những thành công cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Bên cạnh sự có mặt của các nhà văn như: Nam Cao, Nguyên Hồng…thì Tô Hoài là một trong những gương mặt được nhiều độc giả yêu thích và mến mộ.
Ông đã có những đóng góp đáng kể trong bức tranh chung của làng văn Việt Nam. Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 tại làng Nghĩa Đô - phủ Hoài Đức - Hà Đông cũ (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy - Hà Nội). Ông sinh ra và lớn lên gắn bó với quê ngoại ở làng Nghĩa Đô nên bút danh Tô Hoài được ghép từ tên sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Ngoài ra, ông còn có một số bút danh khác như: Mai Trang, Mắt Biển, Duy Phương, Hồng Hoa,…(dùng cho quá trình viết báo của mình).
Tô Hoài xuất thân trong một gia đình làm nghề dệt thủ công, hoàn cảnh rất khó 13 khăn. Khi học hết bậc tiểu học, ông đã phải tự kiếm sống. Cuộc sống của nhà văn vất vả khi bước vào tuổi thanh niên, phải bươn chải với đủ mọi nghề như thợ thủ công, dạy học, bán hàng, kế toán hiệu buôn…Thậm chí có những ngày thất nghiệp, phải chịu cảnh tủi nhục không một đồng xu dính túi. Trong Tự truyện nhà văn đã viết: “ngày ngày tôi đi dạo trong thành phố tha thẩn vu vơ tìm việc, rồi cứ liệu đến bữa cơm tôi lại về” [10, tr.
Năm 1938, trong thời kì Mặt trận dân chủ Tô Hoài tham gia phong trào Ái hữu và làm ban thư kí, ban trị sự Hội Ái hữu của thợ dệt Hà Đông. Năm 1943, ông gia nhập “Hội văn hóa cứu quốc” đầu tiên ở Hà Nội. Từ đó ông liên tục viết báo, hoạt động bí mật tuyên truyền cách mạng cho đến lúc cách mạng tháng Tám thành công. Từ năm 1951, Tô Hoài về công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam.