Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự 1. Khái niệm về thi hành án dân sự Khi các cá nhân, tổ chức phát sinh tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết, phán quyết của Tòa án chỉ là kết quả về mặt pháp lý. Để bảo vệ quyền lợi của mình trên thực tế, bên thắng kiện phải yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án được gọi là thi hành án dân sự. Xét về mặt thuật ngữ, thi hành án dân sự là một cụm từ ghép bao gồm hai vế “thi hành án” và “dân sự”. Theo Từ điển Luật học thì “thi hành án là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật” [62, tr. Xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, thi hành án là hoạt động thiên về lĩnh vực tư pháp, là giai đoạn “hậu tố tụng”, là giai đoạn/khâu tiếp nối quá trình tố tụng để hiện thực hóa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, do đó, hoạt động thi hành án thường được quy định trong các luật về tố tụng.
Do là hoạt động tư pháp nên thi hành án là đối tượng bị kiểm sát. Như vậy, có thể hiểu: Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp của cơ quan Nhà nước, do cơ quan thi hành án dân sự mà đại diện là Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. Theo quy định tại Điều 1, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Thi hành án dân sự là thi hành những bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh 7 Luan van tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo kháng nghị như: bản án, quyết định sơ thẩm về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần; nhận người lao động trở lại làm việc; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Khái niệm về tổ chức cơ quan thi hành án dân sự Trong những chuyên ngành khoa học có giao thoa về đối tượng, phạm vi nghiên cứu có những cách tiếp cận, cắt nghĩa khác nhau về “Tổ chức”, cụ thể là: Theo lý thuyết quản trị công, để hình thành tổ chức phải có từ hai người trở lên (điều kiện về chủ thể) và các hoạt động của họ được kết hợp với nhau một cách có ý thức. Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc hoạt động của tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể) khi nhận thức về khái niệm tổ chức. Luật học (khoa học luật dân sự) gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt với thể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Luật học nhấn mạnh đến các điều kiện thành lập tổ chức và các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức. Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó”. Quan niệm về tổ chức theo Khoa học tổ chức và quản lý có nhiều điểm tương đồng với Luật học, Quản trị công ở chỗ đều xác định tổ chức thuộc về con người, là của con người trong xã hội; vì là tổ chức của con 8 Luan van người, có các hoạt động chung do vậy mục tiêu của tổ chức là một trong những điều kiện quan trọng, không thể thiếu của tổ chức. Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức).
Quan niệm của những người làm công tác tổ chức nhà nước có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một cách có ý thức). Điểm mới quan trọng của quan niệm này về tổ chức thể hiện ở ý nói về phạm vi của tổ chức, mỗi tổ chức có phạm vi hoạt động khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực của tổ chức đó. Các yếu tố này là những điều kiện của tổ chức. Trên phương diện ngôn ngữ: Tuỳ theo ngữ cảnh, tính chất, yêu cầu, mục đích… có thể sử dụng các thuật ngữ: cơ quan, đơn vị, pháp nhân, công ty, hội… thay thế thuật ngữ tổ chức.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt [38, tr.1662], “tổ chức” là “sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung”, “tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì mục tiêu chung”. Theo từ điển Tiếng Việt và thực tế cho thấy trong từng hoàn cảnh cụ thể mà “tổ chức” có thể được hiểu và thực hiện ở nghĩa danh từ “tổ chức” hoặc động từ “tổ chức”, hay nói cách khác tùy vào mỗi công việc, ngành nghề, lĩnh vực… có nhiều định nghĩa khác nhau về “tổ chức”. Tổ chức bao gồm hai nội dung cơ bản là tổ chức cơ cấu và tổ chức quá trình. Với thực tế như vậy, cần có tư duy biện chứng, kế thừa, không cứng nhắc, máy móc, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ nghiên cứu về khái niệm “Tổ chức”.
Từ các khái niệm “tổ chức” trên đây, có thể đưa ra khái niệm tổ chức cơ quan thi hành án dân sự là: “Tổ chức cơ quan thi hành án dân sự là việc sắp xếp, bố trí các bộ phận cấu thành cơ quan thi hành án dân sự nhằm bảo đảm cho mỗi bộ phận 9 Luan van và cả hệ thống tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự đạt được hiệu suất tổng thể, phối hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ quyền hạn được giao”. Khái niệm hoạt động thi hành án dân sự Để làm sáng tỏ khái niệm hoạt động thi hành án dân sự, cần làm rõ khái niệm về hoạt động. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, hoạt động là “làm những việc khác nhau với mục đích nhất định; là vận động, vận hành để thực hiện các chức năng nào hoặc tác động nào đó” [38, tr. Trong đời sống hằng ngày, hoạt động thường được hiểu là quá trình vận động, cử động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm đạt mục đích nào đó, hoạt động là thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể hoặc tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục đích chung trong lĩnh vực nhất định.
Theo Từ điển Luật học, hoạt động thi hành án là: “Hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” [62, tr. Theo đó, giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, nhằm hiện thực hóa các quyết định của Tòa án trên thực tế. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về hoạt động thi hành án dân sự như sau: Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp của Nhà nước, do cơ quan thi hành án dân sự tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại được thi hành theo đúng quy định của pháp luật. Đặc điểm của hoạt động thi hành án dân sự Hoạt động thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động phức tạp, quyết định trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của các bên có liên quan, đảm bảo tính thực thi của các bản án, 10 Luan van quyết định.
Vì vậy, có thể khái quát một số đặc điểm của hoạt động thi hành án dân sự như sau: Thứ nhất, hoạt động THADS liên quan đến quyền lực nhà nước, nó bao gồm hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau nên đòi hỏi sự tham gia của chủ thể không chỉ các cơ quan hành chính nhà nước mà cả các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp cũng như của chính người có nghĩa vụ thi hành án. Do đó, như đã phân tích, việc thực hiện quyền lực nhà nước trong THADS là sự “lưỡng tính” giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp.