Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền phường. Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền phường từ thực tiễn thành phố Hải Phòng. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền phường từ thực tiễn thành phố Hải Phòng. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG 1.
Chính quyền phường trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương 1. Quan niệm về chính quyền địa phương Địa phương là một phạm trù không gian lãnh thổ gắn với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán và lối sống của con người. Thuật ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như trong các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương có thể được tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, chính quyền địa phương được hiểu là “hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương, gồm cả hệ thống cơ quan đại diện (cơ quan quyền lực nhà nước) ở địa phương, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp của địa phương đó [38]. Theo nghĩa hẹp, chính quyền địa phương được hiểu gồm cơ quan đại diện (cơ quan quyền lực nhà nước) và cơ quan hành chính nhà nước của địa phương[38]. Trong luận văn này, khái niệm “chính quyền địa phương” được hiểu theo nghĩa hẹp, gồm cơ quan quyền lực nhà nước (HĐND) và cơ quan hành chính nhà nước (UBND) của địa phương. Theo quy định của Hiến Pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, hệ thống CQĐP ở nước ta chia thành 3 cấp là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
Ngoài ra, tùy điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Quốc hội có thể quyết định thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Chính quyền địa 7 phương mỗi cấp (kể cả đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ) đều gồm có HĐND và UBND, có chức năng quản lý tập trung, thống nhất mọi lĩnh vực đời sống xã hội trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền được pháp luật quy định: Kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, văn hóa, xã hội. Từ những điều nêu trên có thể hiểu: Chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm HĐND và UBND các cấp theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Quan niệm về chính quyền phường 1.
Khái niệm và đặc điểm của chính quyền phường Thuật ngữ “phường” ở Việt Nam xuất hiện từ thời phong kiến. “Phường” ngoài ý nghĩa là một đơn vị hành chính (ở thành thị), còn có nghĩa là một đoàn thể, một nhóm người có tổ chức cùng làm một nghề nghiệp (thí dụ phường bạn, phường chèo, phường thợ…). Thuật ngữ “phường” sử dụng ở Thăng Long - Hà Nội thời kỳ phong kiến là một thể cộng đồng phức hợp cả về mặt chính trị (tổ chức hành chính), kinh tế (nghề nghiệp) và văn hóa tâm lý (mà lõi cốt là tinh thần làng quê gốc), đồng dạng với tổ chức làng xã. Trong thế kỷ XVIII, một giáo sĩ phương Tây đến Thăng Long đã có nhận xét là “không những mỗi làng mạc là một công xã mà phường cũng là một công xã ” [ 6 ].
Theo Hiến pháp năm 2013, các đơn vị hành chính được phân định như sau: - Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; - Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; Thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; - Huyện chia thành xã, thị trấn; Thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; Quận chia thành phường. - Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập. Sơ đồ phân cấp hành chính Việt Nam theo Hiến pháp 2013[35]. Căn cứ vào những phân tích mang tính lý luận và pháp lý về chính quyền địa phương, có thể hiểu: Chính quyền phường là một bộ phận cấu thành của bộ máy chính quyền địa phương, bao gồm HĐND và UBND được thành lập nhằm bảo đảm việc thực thi Hiến pháp và pháp luật, tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội ở địa bàn phường theo quy định của pháp luật.
Chính quyền phường có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chính quyền phường là một cấp trong tổ chức của CQĐP chỉ có ở các đô thị (thị xã, thành phố và quận). Vị trí của chính quyền phường tương đương (hay cùng cấp) với xã, thị trấn. Về cấp hành chính: Phường, xã và thị trấn tương đương nhau, đều là cấp cơ sở cuối cùng trong hệ thống đơn vị hành chính lãnh thổ nhưng thực ra hai đơn vị hành chính này khác ở nhiều mặt. Phường ở địa bàn đô thị, xã trên địa bàn nông thôn.
Hai địa bàn đô thị và nông thôn khác nhau ở đặc điểm địa lý và dân cư, ở nếp sống văn hoá và thuần phong mỹ tục. Thứ hai, cấu trúc của chính quyền phường. 9 Cấu trúc của chính quyền quận được hiểu là các bộ phận cấu thành của chính quyền phường, được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước (QLNN) trong phạm vi địa giới hành chính phường. Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, chính quyền phường có cấu trúc gồm HĐND và UBND phường.
Thứ ba, hoạt động của chính quyền phường Theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động của chính quyền phường được thể hiện thông qua các mặt hoạt động của HĐND và UBND phường. Những hoạt động cơ bản của chính quyền phường gồm: - Ban hành các quyết định theo thẩm quyền: Theo đó, HĐND phường ban hành các nghị quyết để quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương; UBND phường ban hành các quyết định, chỉ thị nhằm tổ chức quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa bàn. - Tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương: HĐND phường quyết định các biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương; giám sát hoạt động của UBND phường và hoạt động của các cơ quan nhà nước khác trên địa bàn, đảm bảo thi hành Hiến pháp và pháp luật ở phường. UBND phường chỉ đạo thực hiện thống nhất Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn phường.
- Tiến hành các hoạt động đảm bảo, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức: Chính quyền phường thông qua các hoạt động theo chức năng và thẩm quyền, tiến hành các biện pháp nhằm đảm bảo và bảo vệ các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức như: hoạt động kiểm tra, giám sát; tiếp công dân, giải quyết khiếu nại và các hoạt động dân chủ ở cơ sở thông qua Quy chế dân chủ ở cơ sở… 1. Vị trí, vai trò của chính quyền phường 10 Từ vị trí của chính quyền địa phương trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước có thể thấy rằng chính quyền phường vừa có vị trí độc lập, vừa có vị trí phụ thuộc. Vị trí độc lập của chính quyền phường được thể hiện chủ yếu trong địa vị pháp lý của HĐND phường và phạm vi quyền tự chủ được phân cấp quản lý. HĐND phường không chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, mà còn là cơ quan đại diện cho quyền, ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương đó.
Do vậy, HĐND là cơ quan của địa phương, độc lập quyết định các vấn đề trên địa bàn lãnh thổ theo các mức độ khác nhau trong phạm vi quyền tự chủ của địa phương. Vị trí phụ thuộc của chính quyền phường được xác định trên cơ sở quan niệm tính chất hoạt động của chính quyền cấp cơ sở, dù đó là hoạt động của HĐND hay UBND đều là hoạt động chấp hành. Mặt khác, trong cơ cấu chính quyền địa phương, UBND phường là cơ quan hành chính nhà nước ở phường và là một bộ phận trong hệ thống hành chính nhà nước thống nhất mà đứng đầu là Chính phủ. Với vị trí này chính quyền phường chịu sự lãnh đạo của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên (Trung ương, Thành phố, Quận) và chịu trách nhiệm trước các cơ quan này trong phạm vi và mức độ phân cấp, phân quyền theo luật định.
Xét về vai trò của chính quyền phường, trước hết phải xuất phát từ cơ cấu tổ chức của chính quyền phường là để nhằm trực tiếp đáp ứng nhu cầu đời sống của cộng đồng dân cư trên địa bàn phường đồng thời thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước của cấp trên. Chính quyền phường đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, thống nhất với lợi ích của Quốc gia, dân tộc. Phường là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, giải quyết 11 mọi vấn đề ở địa phương, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. Do vậy, sự tồn tại của chính quyền phường là cần thiết với vai trò là cấp hành chính thấp nhất, gần nhất, sát nhất để triển khai thực hiện các quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên đến Nhân dân một cách nhanh nhất, đạt hiệu quả cao nhất, cũng như tạo điều kiện để nhân dân trên địa bàn phường tự quyết những vấn đề có liên quan đến đời sống của mình.
Chính quyền phường là một pháp nhân công quyền, có tổ chức bộ máy để thực thi nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, có ngân sách, có tài sản riêng và hoạt động độc lập tương đối trong phạm vi khuôn khổ quy định của pháp luật [41]. Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền phường Chức năng, nhiệm vụ của một cấp chính quyền là những chức trách và nhiệm vụ mà chính quyền đó đảm nhiệm do hiến pháp và pháp luật quy định, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, cả HĐND và UBND đều cùng có chức năng chấp hành pháp luật tại địa phương, quản lý địa phương theo quy định của pháp luật.