Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Tổ chức cho học sinh tự học “Phầ n 6: Tiế n hóa” – Sinh ho ̣c 12 THPT. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 7 z KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề tự học ở trƣờng THPT 1. Trên thế giới Trong lịch sử giáo dục đã xuất hiện nhiều tƣ tƣởng lớn đề cao vai trò của tự học.
Những tƣ tƣởng này đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục phát huy trong nền giáo dục hiện đại. Khổng tử (551 - 479 trƣớc CN) quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ sáng tạo của HS. Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tự tìm ra chân lý, thầy chỉ là ngƣời giúp trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác trò phải từ đó tìm ra, ngƣời thầy không đƣợc làm cho học trò [41]. Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục nhƣ: J.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích ngƣời đọc giành lấy tri thức bằng con đƣờng tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập.
Vai trò của tự học đã đƣợc khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu, điển hình là: N.Rubakin (1862 - 1946) trong tác phẩm “Tự học nhƣ thế nào” đã trình bày nhiều vấn đề phƣơng pháp tự học, đặc biệt là phƣơng pháp sử dụng SGK. Ông tự tin cho rằng “Tự tìm thấy kiến thức - có nghĩa là tự học”. Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh nhƣ thế nào”, tác giả I. Kharlamov đã khẳng định: công tác tự học giữ một vai trò to lớn trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS khi thông hiểu và tiếp thu tri thức mới [16].
Intel ISEF là hội thi khoa học lớn nhất thế giới dành cho HS phổ thông từ lớp 9 – 12, ở 17 lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau nhằm tăng cƣờng hiệu quả và sáng kiến sử dụng công nghệ trong dạy và học, sự thông thạo và kỹ năng giải quyết vấn đề ở giới trẻ, thúc đẩy sự tiến bộ trong dạy và học các môn khoa học: Toán học, Kỹ thuật, v.v… 8 z Tóm lại, qua nghiên cứu các tƣ tƣởng, quan điểm, bàn về dạy học và tự học, tổ chức hoạt động tự học của các tác giả trên thế giới, chúng tôi có một số nhận xét sau: Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi ngƣời, vấn đề tự học của học sinh nói chung và của ho ̣c sinh nói riêng đƣợc các tác giả trên thế giới quan tâm đƣơ ̣c tố i ƣu hóa dƣới các hin ̀ h thƣ́c tổ chƣ́c tƣ̣ ho ̣c. Nhờ đó mà mang la ̣i hiê ̣u quả cao. Ở Việt Nam Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chƣa phát triển nhƣng đất nƣớc vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những nhân tài đó phầ n lớn đều là tự học của bản thân.
Vấn đề tự học thực sự đƣợc phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là ngƣời khởi xƣớng vừa nêu tấm gƣơng tự học [34]. Nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về tự học, trong đó điển hình là Đinh Quang Báo với các tác phẩm Dạy học sinh học ở trường THPT theo hướng hoạt động hóa người học [20], Dạy sinh viên đọc sách – phương pháp dạy tự học chủ yếu (Tài liệu dành cho học viên sau đại học) [35]. Trong bài viết Tự học – Một chìa khóa vàng của giáo dục, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Số 2 / 1998, tác giả Phan Trọng Luận khẳng định: “Tự học là chìa khóa vàng cần đƣợc mài sáng thêm trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc sang thế kỉ XXI. Cũng có thể nghĩ rằng tự học là con đƣờng dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và khoa học một cách có hiệu lực nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên cộng đồng trong sự nghiệp đi nhanh đón đầu lên đỉnh cao khoa học công nghệ hiện đại” [36].
Nguyễn Cảnh Toàn với tác phẩm: “Học và dạy cách học” đã đƣa ra vai trò của ngƣời học, ngƣời dạy và mô hình tự học [33]. Nhƣ vậy, việc nghiên cứu về việc dạy HS tự học không phải là vấn đề mới mẻ đối với nền giáo dục ở nƣớc ta. Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để thiết kế các hoạt động học tập tổ chức HS tự học ở từng môn học là hết sức cần thiết, đặc biệt là trong dạy học Sinh học, cụ thể trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu tổ chức HS tự học “phầ n 6: Tiế n hóa” –THPT. Lý thuyết về tự học 1.
Khái niệm tự học Tự học hiểu theo đúng bản chất là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các phƣơng tiện) cùng các phẩm chất, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê… để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, … và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [33]. Từ những quan niệm về tự học nêu trên, có thể đƣa ra khái niệm về tự học nhƣ sau: Tự học là hoạt động tự giác, tích cực, tự lực phát huy nội lực của bản thân nhằm tìm ra cách học để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo hình thành và phát triển toàn diện nhân cách người học. Vai trò tự học Nếu xây dựng đƣợc phƣơng pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho ngƣời học.
- Tự sắp xếp thời gian phù hợp với mình nhất, học bất cứ lúc nào, nơi đâu bạn thấy tiện lợi và hứng thú. - Tự khám phá ra điểm mạnh và sở thích của bản thân. - Học với tốc độ phù hợp với bạn. - Tìm thấy điều bạn say mê trong môn học, và biến việc học thành điều bạn thích, chứ không chỉ là nghĩa vụ.
- Học với bất kì ai bạn thích, học kết hợp với cách hoạt động khác. 10 z - Tƣ̣ chủ tim ̀ kiế m và thu na ̣p thông tin , kiế n thƣ́c ngoài giới ha ̣n chƣơng trin ̀ h. Không giới ha ̣n NL bản thân ngƣời ho ̣c. Tự học là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá trình biến ngƣời học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo dục).
Tự học giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh và chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới PPDH ở các trƣờng phổ thông. Các mức độ tự học Nói đến quá trình tự học là nói đến vai trò quan trọng của ngƣời học, tuy nhiên bên cạnh đó cũng vẫn có vai trò của ngƣời thầy. Căn cứ vào mức độ độc lập của việc học, có thể chia tự học thành các mức độ khác nhau [42]: - Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của ngƣời khác. HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá đƣợc kết quả tự học của mình.
Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học. - Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ nhƣ học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thƣờng xuyên của HS phổ thông. Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cƣờng kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ. - Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS đƣợc nghe GV giảng giải minh họa, nhƣng không đƣợc tiếp xúc với GV, không đƣợc hỏi, không nhận đƣợc sự giúp đỡ khi gặp khó khăn.
Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá đƣợc kết quả học tập của mình. - Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chƣa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt đƣợc (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai. - Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định.
Song nếu HS vẫn sử dụng SGK 11 z nhƣ hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hƣớng dẫn về phƣơng pháp học. Các hình thức thức tổ chức học sinh tự học Tự học trên lớp Để tổ chức hoạt động tự học ở trên lớp cho HS, GV có thể tiến hành một loạt các biện pháp nhƣ tạo môi trƣờng học tập, tổ chức cho HS làm việc theo nhóm, kết hợp thảo luận toàn lớp, tăng cƣờng việc giải các bài tập, sử dụng mô hình hóa, thông tin phản hồi nhanh nhằm tích cực hóa hoạt động của HS trong quá trình tự học. Tự học ở nhà GV giao nhiệm vụ học tập cho HS thực hiện ở nhà, có thể hoạt động nhóm hoặc cá nhân. Các nhiệm vụ có thể là các bài tập, các bài thực hành thí nghiệm, các dự án học tập, … Tự học ở nhà giúp cho ngƣời học chuẩn bị bài mới, đồng thời cũng là để củng cố kiến thức đã học, vận dụng vào thực tiễn hay tìm tòi mở rộng để nâng cao kiến thức đã học.
Tự học cá nhân Làm việc cá nhân là hoạt động của mỗi HS để tác động vào kiến thức.