Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học lớp 5. Chương 2: Xây dựng quy trình tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Khoa học lớp 5. Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC KHOA HỌC LỚP 5 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.
Trên thế giới Khổng Tử - nhà giáo dục học lỗi lạc của nhân loại đã từng nói: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quen; những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”.Mục đích giáo dục từ quan điểm này chính là việc ngƣời dạy cần phải thiết kế và tổ chức các hoạt động cho ngƣời học trải nghiệm để tạo ra tri thức, kinh nghiệm mới.CN) từng nói: “Với những việc chúng ta phải học hỏi trước khi làm, chúng ta hãy học bằng cách làm chúng”.Nhấn mạnh việc học phải bắt đầu từ chính hoạt động của ngƣời học, đó là cách học nhanh và hiệu quả nhất.Qua đó đề cao vai trò tích cực của ngƣời học trong quá trình dạy học. John Locke (1632-1704) - nhà triết học và giáo dục học Anh cho rằng: “Mọi tri thức của con người đều rút ra từ cảm giác, từ kinh nghiệm sống. Đối với ông, việc quan sát, thực nghiệm. trải nghiệm thực tiễn là hết sức quan trọng vì nó là tiền đề cho sự khái quát lí thuyết”.
Đây đƣợc đánh giá là một tƣ tƣởng giáo dục tiến bộ, chứng tỏ rằng việc coi trọng sự trải nghiệm của ngƣời học trong dạy học đƣợc khẳng định từ rất lâu trong lịch sử. Không phải cho tới ngày nay, khi khoa học - kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, xu thế hội nhập và nền kinh tế tri thức ngày càng mở rộng, khiến cho nhu cầu học vấn của ngƣời học tăng lên một cách đa dạng và có chọn lọc, đòi hỏi phải dạy học trải nghiệm, mà ngay từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XVIII, các nhà giáo dục lớn rất quan tâm và đề cao vai trò của học qua làm, qua trải nghiệm.Tuy nhiên, những quan niệm tiến bộ trên về vấn đề này mới chỉ là manh nha tự phát của một vài cá nhân tiêu biểu, nó chƣa trở thành trào lƣu có tầm ảnh hƣởng sâu rộng tới nền giáo dục tƣơng lai. Cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, trong hệ thống lí luận về giáo dục, nhiều tác giả sử dụng thuật ngữ: Học qua làm, học qua thực hành, học qua trải nghiệm. đều muốn chỉ ra phƣơng thức học tập hiệu quả, gắn với vận động, với thao tác vật chất, với thực tế, nên các thuật ngữ này dùng thay cho nhau.
Điều này cho 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thấy chân dung của dạy học qua trải nghiệm hòa trộn với các phƣơng thức dạy học khác, chƣa có quan niệm thực sự tƣờng minh về vấn đề này. Vì thế trong phần khái lƣợc lịch sử nghiên cứu về trải nghiệm và dạy học trải nghiệm, chúng tôi chỉ tập trung vào những nghiên cứu từ khoảng nửa đầu thế kỷ XX cho đến nay. Tác giả Kurt Lewin (1890-1947), với nghiên cứu về hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm. Tác giả đã đƣa ra mô hình trải nghiệm gồm 4 giai đoạn (kinh nghiệm cụ thể - quan sát và phản ánh - Hình thành khái niệm trừu tƣợng và khái quát - Thử nghiệm những ứng dụng của khái niệm trong tình huống mới).
Theo ông, trong nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm, học tập là một quá trình tích hợp, đƣợc bắt đầu với kinh nghiệm cụ thể/kinh nghiệm rời rạc; tiếp theo ngƣời học sẽ thu thập dữ liệu, quan sát và phản ánh về kinh nghiệm đó; các dữ liệu này sau đó đƣợc phân tích, khái quát để hình thành các khái niệm trừu tƣợng và khái quát; cuối cùng là thử nghiệm các ý nghĩa của khái niệm trong tình hình mới [5, tr36]. Dewey là ngƣời đƣa ra quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”.Ông đã phân tích vai trò của kinh nghiệm và đã chỉ ra: Đối với ngƣời học - trẻ em, khả năng học hỏi từ kinh nghiệm hết sức có ý nghĩa, khả năng lƣu giữ kinh nghiệm sẽ giúp giải quyết khó khăn trong các tình huống mà trẻ sẽ gặp trong cuộc sống sau này; nghĩa là khả năng điều chỉnh hành vi trên cơ sở các kinh nghiệm trƣớc đó và hình thành kinh nghiệm mới của trẻ là rất quan trọng. Trên cơ sở đó John Dewey đƣa ra mô hình về quá trình học tập, mô tả quá trình ngƣời học xây dựng kiến thức cho mình thông qua những kinh nghiệm quan sát đƣợc. Mô hình học tập của Dewey là quá trình hoạt động trí tuệ khá phức tạp, gồm: 1) Quan sát các điều kiện xung quanh (Observation); 2) Hình thành kiến thức về những gì đã xảy ra trong những tình huống tƣơng tự trong quá khứ, một kiến thức thu đƣợc một phần của kí ức và một phần từ các thông tin, tƣ vấn, và cảnh báo của những ngƣời đã có kinh nghiệm rộng lớn hơn (Knowledge); 3) Đánh giá, phán xét những gì quan sát đƣợc và những kiến thức thu đƣợc (Judgment).
Kết quả của quá trình này sẽ thúc đẩy con ngƣời thực hiện các chuỗi hoạt động tiếp theo để đạt đƣợc mục đích [5, tr37].Kolb đƣa ra mô hình trải nghiệm trong dạy học, việc tổ chức dạy học môn học thông qua khai thác vận dụng và phát triển từ mô hình dạy học qua 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trải nghiệm của David A.Kolb là vô cùng quan trọng vì mô hình này là sự kế thừa tinh tế từ thuyết học tập trải nghiệm của Lewin, thuyết học trải nghiệm của Dewey và thuyết nhận thức của Piaget. Trong mô hình dạy học qua trải nghiệm của mình, Kolb làm sáng tỏ hơn mối liên hệ giữa lí thuyết và thực hành, giữa những khái quát mang tính trừu tƣợng và ví dụ cụ thể, giữa lĩnh vực cảm xúc và nhận thức, mô hình miêu tả hai phƣơng diện, mỗi phƣơng diện thể hiện hai kênh có quan hệ biện chứng với nhau: 1/Phƣơng diện nắm bắt kinh nghiệm thông qua hai kênh: Kinh nghiệm cụ thể và khái niệm hóa trừu tƣợng; 2/ Phƣơng diện chuyển đổi kinh nghiệm thông qua hai kênh: Quan sát - phản ánh và thực hành chủ động. Theo ông, cốt lõi của học tập qua trải nghiệm là những hoạt động sáng tạo và căng thẳng, bởi mỗi cá nhân khi tham gia trải nghiệm luôn phải phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn để tạo nên sự thống nhất giữa cái biết và chƣa biết, giữa những điều thấy với việc chuyển hóa thành hành vi. Điều này thể hiện qua trục nắm bắt và trục chuyển đổi kinh nghiệm với sự vận động, tiến triển của chu trình học tập bốn giai đoạn, mô hình học tập qua trải nghiệm của Kolb đƣợc thể hiện nhƣ sau: Hình 1.1: Mô hình dạy học qua của David A.
Kolb (1984) Chu trình bốn giai đoạn dạy học qua trải nghiệm 1/ Kinh nghiệm cụ thể: Học tập thông qua các hoạt động, thao tác cụ thể, trực tiếp; 2/Quan sát - phản ánh: Học tập thông qua quan sát, xử lí, suy ngẫm các sự kiện đang xảy ra dựa trên những kiến thức, kinh nghiệm cũ và chia sẻ với những ngƣời xung quanh một cách có mục đích; 3/ Khái niệm hóa trừu tƣợng: Học tập thông qua 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc phân tích những gì quan sát đƣợc từ đó rút ra khái niệm tổng quát; 4/Thực hành chủ động: Học tập thông qua việc áp dụng những kinh nghiệm vừa nắm bắt đƣợc vào bối cảnh, tình huống hoặc sự việc mới trong phạm vi mở rộng. Bốn giai đoạn học tập qua trải nghiệm của Kolb vận hành trong một chu trình tuần hoàn hình xoắn ốc liên tục. Kinh nghiệm cụ thể là nền tảng của quá trình nhận thức, những quan sát phản hồi đƣợc đồng bộ và chuyển đổi thành khái niệm trừu tƣợng từ đó rút ra kinh nghiệm thông qua hành động, kinh nghiệm này có thể đƣợc thử nghiệm một cách chủ động và sử dụng để tạo ra các trải nghiệm mới. Nhƣ vậy, trong quá trình học tập, ngƣời học dùng kinh nghiệm làm điểm tựa cho quá trình học tập và sự trải nghiệm chính là cách thức không chỉ làm giàu vốn hiểu biết mà còn tạo nên những xúc cảm, tình cảm tích cực cho bản thân.
Do đó, ngƣời học cần trải qua cả bốn giai đoạn này thì kinh nghiệm mới sẽ trở nên bền vững [5, tr38-39]. Ở Việt Nam Nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ thời kỳ đầu (sau năm 1945), chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra phƣơng hƣớng giáo dục của quốc gia là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn liền với xã hội”. Đây đƣợc coi là nền tảng của dạy học tiếp cận năng lực (DHTCNL) với các HĐTN ở Việt Nam và cũng là nguyên lí giáo dục đƣợc quy định trong Luật giáo dục Việt Nam hiện hành. Nhà giáo dục lỗi lạc của Việt Nam, GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn luôn đề cao vai trò của “học thông qua hành”, dƣới sự chủ trì của ông, từ năm 1977 - 1987, một nhóm các nhà khoa học đã thực hiện chƣơng trình “Tự học có hƣớng dẫn kết hợp với thực tập dài hạn ở trƣờng phổ thông” và đã đạt kết quả nhƣ mong đợi.
Bàn về vấn đề này còn có nhiều tác phẩm khác nhau: “Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh” của tác giả Nguyễn Nghĩa Dán (Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/1998). Chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện nay và sau này ở Việt Nam, HĐTN là một trong những hoạt động giáo dục cần thiết, bắt buộc. Mỗi HĐTN mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau, coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tích cực, sáng tạo, tự chủ của HS [1]. HĐTN đƣợc tổ chức dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ hoạt động theo nhóm nhỏ ngay trong tiết học, hoạt động thiện nguyện tại địa phƣơng,lao động công 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ích, vệ sinh và thắp hƣơng các Anh hùng liệt sĩ tại nghĩa trang địa phƣơng, hoạt động câu lạc bộ, giao lƣu trong các buổi sinh hoạt đoàn, sinh hoạt lớp, diễn đàn,trò chơi, tham quan, cuộc thi,… Trong đó, cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn HS và đạt hiệu quả cao, mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể, đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho HS; góp phần bồi dƣỡng cho các em động cơ học tập tích cực [19].