phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học truyện Việt Nam sau 1975 ở trƣờng trung học phổ thông. Biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học truyện Việt Nam sau 1975 ở trƣờng trung học phổ thông. Thực nghiệm sƣ phạm.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TRUYỆN VIỆT NAM SAU 1975 Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Cở sở lý luận 1. Hoạt động trải nghiệm 1. Trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm HĐTN là thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống cũng nhƣ trong dạy học hiện nay.
Theo sinh lý học, hoạt động là sự tiêu hao năng lƣợng, thần kinh và cơ bắp của con ngƣời khi con ngƣời tác động vào hiện thực khách quan nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Theo quan điểm của tâm lý học duy vật biện chứng, hoạt động là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời, là sự tác động một cách tích cực của con ngƣời đến hiện thực để thiết lập mối quan hệ giữa con ngƣời với thế giới khách quan nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con ngƣời. Tác giả Hoàng Phê trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đã nêu “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định” [25, tr 699]. Nhƣ vậy, có thể thấy hoạt động là quá trình con ngƣời chuyển hoá năng lực lao động cùng với các phẩm chất tâm lý thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngƣợc lại – biến chúng trở thành vốn liếng tinh thần của con ngƣời.
Từ điển Bách khoa Việt Nam diễn giải về “trải nghiệm” theo cả hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, “trải nghiệm” là bất kì một trạng thái nào có màu sắc cảm xúc đƣợc chủ thể “cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức.) trong đời sống tâm lý của từng ngƣời”. Theo nghĩa hẹp, “trải nghiệm là những tín hiệu bên trong, nhờ đó các sự kiện diễn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ra đối với cá nhân đƣợc ý thức chuyển thành ý kiến cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân” [1]. Theo Bách khoa toàn thƣ Wikipedia, “trải nghiệm” (hay kinh nghiệm) là tri thức hay sự thông thạo về một sự kiện hay một chủ đề có đƣợc thông qua tham gia, sự can dự hay tiếp xúc trực tiếp.
Trong quá trình đó, kinh nghiệm thu đƣợc có thể tốt hoặc xấu, những nhận định, bình luận tích cực hay tiêu cực. tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ môi trƣờng sống, tâm địa của mỗi ngƣời. Tác giả Hoàng Phê định nghĩa: “Trải” có nghĩa là “đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng”, còn “nghiệm” nghĩa là “kinh qua thực tế nhận thấy điều đó đúng” [25, tr 1577]. Nhƣ vậy, có thể thấy, trải nghiệm là quá trình chủ thể đƣợc trực tiếp tham gia hoạt động và rút ra những kinh nghiệm cho bản thân.
Tóm lại, “trải nghiệm” đƣợc hiểu là quá trình những tồn tại khách quan tác động vào con ngƣời, con ngƣời cảm nhận đƣợc những tác động đó, để lại những ấn tƣợng sâu đậm, rút ra cho bản thân những bài học, vận dụng chúng vào thực tế đời sống và hình thành các giá trị cho con ngƣời. Nhƣ vậy, HĐTN là hoạt động giáo dục đƣợc tiến hành theo phƣơng thức trải nghiệm để góp phần phát triển toàn diện năng lực và nhân cách cho học sinh. Hoạt động này phải bao gồm ba yếu tố: vận dụng kinh nghiệm đã có; thử nghiệm tích cực vào hoạt động thực tế; hình thành kinh nghiệm mới. Trong quá trình đó, học sinh đƣợc trực tiếp hoạt động trong môi trƣờng phù hợp để từ đó hiểu rõ hơn về bản thân, phát hiện những khả năng của mình, từ đó phát huy năng lực và tích luỹ những kinh nghiệm cho chính mình.
Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông HĐTN đƣợc xem là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong quá trình giáo dục nói chung, trong quá trình dạy học nói riêng. Trải nghiệm trong trƣờng phổ thông mang một số đặc điểm cơ bản sau đây: * Nội dung hoạt động trải nghiệm mang tính tích hợp và phân hoá cao. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính tích hợp thể hiện ở chỗ, nội dung của các HĐTN là sự tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực giáo dục nhƣ giáo dục đạo đức, trí tuệ, kĩ năng sống, nghệ thuật, thể chất, an toàn giao thông. Bên cạnh đó, học sinh còn đƣợc lựa chọn một số hoạt động chuyên biệt phù hợp với năng lực, sở trƣờng, hứng thú của cá nhân để phát triển năng lực sáng tạo riêng của mình.
* HĐTN đƣợc thực hiện dƣới nhiều hình thức đa dạng Cùng một nội dung giáo dục, một chủ đề học tập, HĐTN có thể đƣợc tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu của học sinh, những đặc điểm, điều kiện của nhà trƣờng, địa phƣơng. Các hình thức tổ chức HĐTN phổ biến nhƣ: trò chơi, sân khấu hoá, hội thi, diễn đàn, câu lạc bộ, các công trình nghiên cứu, các cuộc thi tìm hiểu. Nhờ sự đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh đƣợc thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, hấp dẫn, không gò bó, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu, nguyện vọng của đại đa số học sinh. Không những thế, ngay cả giáo viên cũng có cơ hội để thể hiện sự sáng tạo, chủ động linh hoạt của mình, làm tăng tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức trong quá trình dạy học.
Hƣớng dẫn của “Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể” (2017) cho thấy HĐTN có thể đƣợc tổ chức với tƣ cách là một hoạt động độc lập hoặc là một hình thức dạy học đƣợc áp dụng cho từng môn học; theo các quy mô khác nhau (theo nhóm, theo lớp, theo khối, theo trƣờng, cụm trƣờng.); ở nhiều địa điểm khác nhau, trong hoặc ngoài nhà trƣờng (lớp học, thƣ viện, sân trƣờng, viện bảo tàng, các khu di tích lịch sử văn hoá.) * HĐTN đòi hỏi sự phối hợp, liên kết của nhiều lực lƣợng giáo dục trong và ngoài nhà trƣờng. Cùng với các lực lƣợng giáo dục trong nhà trƣờng nhƣ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, ban giám hiệu., HĐTN còn thu hút sự tham gia của nhiều lực lƣợng bên ngoài nhà trƣờng nhƣ: cha mẹ học sinh, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính quyền địa phƣơng, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, những tấm gƣơng tiêu biểu ở tại địa phƣơng. Tuỳ vào nội dung, mục đích của từng hoạt động mà vai trò tham gia của các lực lƣợng này sẽ khác nhau (tham gia trực tiếp/gián tiếp, tham gia toàn bộ quá trình diễn ra hoạt động/một khâu, một phần của hoạt động.) * HĐTN giúp học sinh lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện đƣợc. Trong thực tế, có những kinh nghiệm chỉ có thể lĩnh hội thông qua trải nghiệm.
Ví dụ nhƣ: phân biệt mùi vị, cảm thụ âm nhạc, tƣ thế cơ thể trong không gian, niềm vui sƣớng hay đau khổ. Sự đa dạng trong HĐTN sẽ giúp học sinh hình thành vốn kinh nghiệm phong phú, thực tế mà nhà trƣờng sẽ không thể cung cấp nếu chỉ thông qua các công thức, định luật, định lý, những bảng ghi nhớ. * HĐTN mang tính sáng tạo. Cốt lõi của HĐTN là tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh đƣợc tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, từ thiết kế, chuẩn bị đến thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động.
Qua đó, các em đƣợc trải nghiệm, đƣợc bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, đƣợc thể hiện và khẳng định bản thân. Nghĩa là, thông qua trải nghiệm, học sinh sẽ tạo ra những giá trị mới, đƣợc thể hiện những giá trị của riêng mình, những ý tƣởng mới mẻ mang dấu ấn cá nhân. Hoạt động trải nghiệm trong dạy học với việc hình thành, phát triển các năng lực cho học sinh Năng lực là “khả năng hành động, đạt đƣợc thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” (Tremblay, 2002). Chƣơng trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu ngắn gọn: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Quesbec – Ministere de 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Theo Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt, “năng lực” có nghĩa gốc chung là: a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao. Nhƣ vậy, các định nghĩa trên đều gặp gỡ ở điểm chung: Năng lực là sự làm chủ những kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lý để thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra của cuộc sống. Nghĩa là, nói đến năng lực là nói đến khả năng “thực hiện”, biết “làm” một cách có kiến thức và kỹ năng, chứ không phải chỉ dừng lại ở việc “biết” và “hiểu”. Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu (Yêu nƣớc, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm) và những năng lực cốt lõi gồm 3 năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo), những năng lực chuyên môn (năng lực ngôn ngữ; năng lực tính toán; năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội; năng lực công nghệ; năng lực tin học; năng lực thẩm mỹ; năng lực thể chất).
Dạy học theo hƣớng hình thành, phát triển các năng lực cho học sinh luôn đặt ra câu hỏi “Học sinh biết làm gì từ những điều đã biết?” Để trả lời cho câu hỏi này, HĐTN chính là con đƣờng thiết thực và hiệu quả. Bởi vì trong HĐTN, học sinh đƣợc thực hành những kiến thức, kỹ năng đã học trong các môn học, qua đó tiếp tục tìm tòi, mở rộng kiến thức và vận dụng chúng vào cuộc sống thực tiễn.