mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị. Trong phần nội dung tiểu luận gồm 3 chƣơng: 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NHẰM BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Giáo dục phát triển bền vững 1. Khái niệm phát triển bền vững Khái niệm về phát triển bền vững ở nƣớc ta còn khá lạ lẫm, mới xuất hiện trong các tài liệu khoa học (khoảng đầu những năm 70 của thế kỷ 20).
Dựa trên khái niệm này có những quan điểm khác nhau, nhƣ ở Trung Quốc thay vì PTBV ngƣời ta phát biểu là phát triển hài hòa. Khái niệm này chỉ đƣợc thực sự quan tâm trong nƣớc khi mà Việt Nam bắt đầu hƣởng ứng lời kêu gọi của Liên Hợp Quốc về định hƣớng PTBV. Trên thế giới trong nhiều tác phẩm, sách báo đã đề cập đến khái niệm PTBV từ rất sớm. Trong ấn phẩm(1980) “Chiến lược bảo tồn Thế giới” do Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chƣơng trình Môi trƣờng Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) đã đƣa ra nhận định sự phát triển của toàn thể nhân loại không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế hay xã hội mà cần tôn trọng những nhu cầu thiết yếu của con ngƣời để đảm bảo một Xã hội công bằng, dân chủ và để duy trì Xã hội ấy cần biết bảo trì môi trƣờng sống, biết giữ gìn các yếu tố của tự nhiên.
[1] Để phát triển lâu dài thì mọi hoạt động phải nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con ngƣời ở hiện tại nhƣng không đƣợc vì thế mà quên việc bảo tồn thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống cho thế hệ mai sau. Điều này vào năm 1987, đã đƣợc nhắc đến trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Ủy ban Thế giới về Môi trƣờng và Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc (thƣờng đƣợc gọi là “Ủy ban Brundtland. [2] Nhƣ vậy, phát triển bền vững là quá trình duy trì đồng thời dựa trên ba khía cạnh phát triển: Kinh tế tăng trƣởng; Xã hội giàu có, dân chủ, văn hóa đa dạng; Môi trƣờng và tài nguyên đƣợc sử dụng bền vững. Vì vậy, nguyên tắc để phát triển bền vững là mọi hoạt động của con ngƣời phải đảm bảo duy trì “ba trụ cột” kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Ba trụ cột của phát triển bền vững Giáo dục vì sự phát triển bền vững hƣớng tới các kiến thức, kĩ năng, giá trị và năng lực hành động để thực hiện các mục tiêu quốc gia theo “3 trụ cột” của PTBV, đó là phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng (Hình 1. Mô hình phát triển bềô hình c hình ph(Nam Phi -2005) Theo GS.TS Nguyễn Văn Minh, nội dung cụ thể của các trụ cột này gồm [4]: - Về Kinh tế- một yếu tố quan trọng mà mỗi quốc gia đều hƣớng tới. Trong đó chính sách “sản xuất và tiêu dùng bền vững” nhằm phát triển kinh tế lâu dài kết hợp bảo tồn đại dƣơng, ngăn chặn suy thoái… Các chính sách đƣa ra nhằm tạo điều kiện cho nhu cầu và đời sống kinh tế của con ngƣời ngày một nâng cao đảm bảo an ninh lƣơng thực cho mỗi quốc gia. - Về văn hóa – xã hội, quyền con ngƣời, bình đẳng giới, công bằng xã hội, chiến tranh và hòa bình, xã hội học tập, công dân toàn cầu… - Về môi trƣờng: các chính sách nhằm bảo vệ các tài nguyên nƣớc, rừng… góp phần thúc đẩy phát triển sự đa dạng của hệ sinh thái, tôn tạo và bảo trì thiên nhiên động thực vật hoang dã.
Nhƣ vậy, muốn PTBV cần có sự kết hợp chặt chẽ và phát triển hài hòa đồng thời cả 3 lĩnh vực môi trƣờng, kinh tế và xã hội. Kinh tế phát triển tốt đƣợc khi các điều kiện về xã hội và môi trƣờng phải đƣợc đảm bảo. Không một quốc gia nào có thể bứt phá tăng tốc nền kinh tế khi mà điều kiện về quyền con ngƣời bị xâm phạm, khi Xã hội bất ổn. Tiếp đến nếu một quốc gia chỉ chăm chú vào xây dựng kinh tế mà lãng quên việc bảo vệ môi trƣờng thì dẫn đến một kết quả tất yếu, quốc gia đó 7 không có tƣơng lai.
Hay một Xã hội bất ổn, các chính sách đƣa ra không xoa dịu đƣợc sự bất bình của ngƣời dân thì dù có nhiều vàng dữ trữ, quốc gia đó khó mà bảo trì đƣợc nền kinh tế về sau. Nếu điều kiện sống, môi trƣờng sống ô nhiễm không đảm bảo thì cả Xã hội cũng nhƣ nền kinh tế sẽ trì trệ. Vậy nên muốn cùng PTBV không thể tách rời từng vấn đề mà buộc chúng ta phải chú ý đến cả ba trụ cột: Kinh tế, Xã hội và Môi trƣờng. Mục tiêu của phát triển bền vững Các mục tiêu Phát triển Bền vững là lời kêu gọi hành động chung để chấm dứt nghèo đói, bảo vệ hành tinh và cải thiện cuộc sống và triển vọng của mọi ngƣời, ở mọi nơi.
17 Mục tiêu đã đƣợc tất cả các Quốc gia Thành viên Liên hợp quốc thông qua vào năm 2015, là một phần của Chƣơng trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững, đề ra kế hoạch 15 năm để đạt đƣợc các mục tiêu [5] Hình 1. Bồi dƣỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực đã đƣợc nhiều tổ chức và các tác giả đƣa ra. Thuật ngữ năng lực đƣợc R.
White nhắc đến lần đầu vào năm 1959. Tiếp theo Hooper, L. “Năng lực là một nhóm các kiến thức, kỹ năng, thái độ thiết yếu để đạt đƣợc mức hiệu quả đƣợc chấp nhận trong thực tiễn công việc” [6]. “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể đƣợc đề cập do Tổ chức các nƣớc kinh tế phát triển OEC(2002).
Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội giải thích “NL của ngƣời học đạt đƣợc sau khi tốt nghiệp là những kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp và khả năng làm việc của cá nhân trên cơ sở áp dụng các kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm trong giải quyết công việc tƣơng ứng với trình độ và ngành, nghề đào tạo”. [7] Năng lực là khả năng hoàn thành các hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ huy động các kiến thức, kỹ năng và một số yếu tố khác nhƣ tƣ tƣởng, niềm tin, tôn giáo… Đây là một cách phát biểu đƣợc nêu trong dự thảo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể. [8] Một cách hiểu khác năng lực là khả năng thực hiện thành công một nhiệm vụ hay một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động theo nhƣ tác giả chủ biên Đỗ Hƣơng Trà (2015) [9] Năng lực là “một tổ hợp các đặc điểm tâm lí” của mỗi con ngƣời. Đây cũng là ý kiến của tác giả Phạm Minh Hạc.
Cho rằng mỗi cá nhân sẽ học hỏi trao dồi tổ hợp này theo thời gian thông qua các trải nghiệm hay hoạt động cụ thể. Chính vì vậy, để rèn luyện năng lực ngƣời dạy phải mất công tƣ duy để thiết kế các hoạt động cho ngƣời học đƣợc tham gia để trải nghiệm, nhằm bồi dƣỡng cho ngƣời học các năng lực thành phần. [10] 9 Về cấu trúc có nhiều cách phân chia khác nhau, nhƣng nhìn chung năng lực đƣợc chia thành 2 loại : năng lực chung và năng lực riêng. Trong đó năng lực chung bao gồm cả năng lực riêng hay có thể gọi năng lực riêng là năng lực thành phần.
Mỗi năng lực thành phần thể hiện đầu ra cho hoạt động học tập mà ngƣời dạy chủ đích lựa chọn cho ngƣời học. Trong chƣơng trình đánh giá HS PISA đã đƣa ra sơ đồ về cấu trúc năng lực nhƣ sau : Hình 1. Sơ đồ cấu trúc năng lực theo chương trình PISA Từ những nhận định trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là khả năng lĩnh hội đƣợc những kiến thức, kỹ năng mới khi hoàn thành một nhiệm vụ nào đó để giải quyết các vấn đề tồn tại trong thực tiễn và khi đó con ngƣời phải vận dụng linh hoạt kinh nghiệm, kỹ năng, tƣ duy của bản thân cũng nhƣ của đội nhóm. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề là một trong những năng lực cốt lõi trong hoạt động dạy và học, có nhiều nhận định về năng lực này: Để khám phá đƣợc tri thức mới con ngƣời phải tƣ duy và hình thành đƣợc NLGQVĐ.
Vì vậy NLGQVĐ là khả năng của từng cá nhân khi giải quyết các tình huống có vấn đề mà không có một khuôn mẫu hay quy trình có sẵn để giải quyết mà buộc ngƣời học phải “sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm” [8]. Một ý kiến khác (Nguyễn Cảnh Toàn, 2012, Xã hội học tập – học tập suốt đời) GQVĐ là “hoạt động trí tuệ” mà đƣợc cho là “phức tạp và cao nhất về nhận thức” mà khi đó ngƣời học phải vận dụng tất cả những kinh nghiệm, kỹ năng của bản thân để GQVĐ ”. [11] 10 Theo định nghĩa trong đánh giá PISA (2012) NLGQVĐ là khả năng của bản thân ngƣời học khi gặp phải tình huống có vấn đề mà chƣa có sẵn giải pháp, ngƣời học suy nghĩ và tự đƣa ra đƣợc hƣớng giải quyết thuyết phục. Trong quá trình, tham gia giải quyết vấn đề ngƣời học không ngần ngại tham gia vào các nhiệm vụ khó, điều đó chứng tỏ khả năng cũng nhƣ tƣ duy độc lập của ngƣời học.
Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu NLGQVĐ là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm bản thân, thái độ, giá trị để nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể mà tình huống có vấn đề đặt ra. Các biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề Năng lực GQVĐ vừa đƣợc xem nhƣ công cụ nhận thức, đánh giá vừa xem nhƣ mục tiêu dành cho việc học, chiếm lĩnh và vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Qua phân tích các khái niệm liên quan chúng tôi rút ra các biểu hiện của NLGQVĐ nhƣ : - Phân tích và xác định chính xác mục tiêu của hoạt động học tập. - Đề xuất và nêu tên đƣợc vấn đề cần phải giải quyết của hoạt động học tập - Đề xuất đƣa ra các phƣơng án giải quyết vấn đề và đồng thời lựa chọn đƣợc phƣơng án hữu hiệu nhất cho hoạt động.
- Xây dựng và thiết kế đƣợc kế hoạch thực hiện chi tiết .