CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TIẾNG ANH GIAO TIẾP THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC 1. Nghiên cứu ngoài nước Trong lịch sử của nhân loại đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra các yếu tố, vai trò cũng như các mối quan hệ tương tác của các thành tố trong hoạt động dạy học. Tư tưởng dạy học tương tác xuất hiện từ khi con người nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và luôn muốn kiếm tìm những cách thức để nâng cao hiệu quả học tập của mình. Tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại” (1633–1638) của nhà giáo dục lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A Komensky (1592-1670) đã khẳng định vai trò quan trọng của người dạy, người học, và môi trường dạy học.
Ông chỉ ra các phương pháp dạy học như: dạy học phải gắn liền với sự vật cụ thể, dạy học tương tác, và dạy học đảm bảo tính trực quan. Quá trình dạy học phải phù hợp với người học và sự hiểu biết là do các giác quan đem lại…Tác phẩm còn trình bày tư tưởng cấp tiến, khoa học về mô hình giáo dục hiện đại. Tư tưởng sư phạm của ông vẫn còn tác dụng cho đến ngày nay [17, tr. Tác phẩm “Con người, kiến thức và giáo dục” (1774) của nhà giáo dục người Pháp Helvétius (1715 – 1771) đã chỉ ra có một sự tương đồng về tiếp nhận kiến thức giữa mọi người với điều kiện giáo viên có khả năng kiểm soát được môi trường xung quanh của học sinh [6, tr.
Tác giả cho rằng ngoài hai yếu tố người dạy và người học thì nhân tố môi trường dạy học cũng cực kì quan trọng. Nhà triết gia và là nhà giáo dục người Mỹ, John Dewey (1859-1952) cho rằng giáo viên cần phải xem trọng vốn kiến thức sẵn có của mỗi học sinh, học đường không chỉ bao gồm lớp học mà còn là ở phòng đọc sách, sân vườn, v. Để tăng hiệu quả học tập, ông đề nghị học sinh nên làm việc theo nhóm, có sự tương tác, thảo luận 8 Luan van trong nhóm [6, tr. Trong lý thuyết dạy học biện chứng, nhà tâm lý học L.Vygotsky (1896 – 1915) đã cho rằng cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa học cá nhân và học hợp tác, dạy học là sự hợp tác hai chiều giữa thầy và trò.
Thầy đóng vai trò hướng dẫn, đạo diễn và trò tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo [20, tr. Quan điểm dạy học tương tác phát triển của L.Vygotsky đã mở ra một trào lưu dạy học mới – dạy học tích cực. Trong tác phẩm “Tiến tới một sư phạm học tương tác” (2001) của hai tác giả người Canada là Jean Marc Denommé và Madeleine Roy đã nói tới một trường phái sư phạm học tương tác cùng nền tảng lý luận của nó và mở ra một quan điểm sư phạm tương tác với cấu trúc là một “bộ ba” gồm: người học, người dạy và môi trường. Còn nội dung kiến thức như là một yếu tố khách quan mà người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh.
Thêm vào đó, tác giả còn phân tích kĩ người học phải học như thế nào, đòi hỏi giáo viên cần có kiến thức hiểu biết về hệ thần kinh nhận thức của người học, tính năng động của nó để phối hợp tốt hơn các mối liên hệ qua lại giữa người học, người dạy và môi trường trong việc lĩnh hội kiến thức mới. Tuy nhiên, tác phẩm vẫn còn một số mặt hạn chế như chưa chỉ ra bằng cách nào, công cụ ra sao để nhà sư phạm phát huy tác động tích cực của môi trường đến người học và hoạt động học của họ cũng như hạn chế tác động không có lợi của môi trường đến người học và phương pháp học của họ [9]. Trong tác phẩm “Một tiếp cận tương tác tới ngôn ngữ sư phạm” (2001) của hai tác giả Brown – Douglas H. đã đưa ra nhiểu biện pháp giúp giảng viên tận dụng tối đa thời gian lên lớp để hướng dẫn sinh viên tự học, tự rèn luyện: (a) Sử dụng thời gian trong lớp học để hướng dẫn và tương tác với sinh viên; (b) Không lãng phí thời gian cho những hoạt động mà sinh viên có thể tự học, tự luyện tập ở nhà; (c) Giảm bớt vai trò của bài thi và nhấn mạnh tầm quan trọng của năng lực mà sinh viên đạt được; (d) Khuyến khích sinh viên có những chiến lược học tập, rèn luyện bên ngoài lớp học; (e) Cung cấp nhiều cơ hội học tập, rèn luyện thêm bên ngoài lớp học cho sinh viên và (f) Thành lập câu lạc bộ và có những hoạt động thường xuyên, bổ ích.
9 Luan van Thêm vào đó, liên quan đến sự tương tác trong giao tiếp tác giả nói rằng “ tương tác, thật sự là cốt lõi hay còn gọi là tim mạch của sự giao tiếp: nó là tất cả những gì của sự giao tiếp khi nói về” [29]. Nghiên cứu cũng chỉ ra ý nghĩa tương tự của tương tác trong lớp học, định nghĩa lớp học tương tác theo một quy trình bao gồm hai chiều giữa những người tham gia trong quá trình học. Người dạy gây ảnh hưởng đến người học và ngược lại. Trong công trình nghiên cứu của Diallo Sessoms (2008) cho rằng dạy học tương tác là sự kết hợp của việc dạy và học tương tác được hỗ trợ bởi các thiết bị công nghệ.
Việc kết hợp các công cụ tạo ra một môi trường tương tác, cho phép người dạy có cơ hội để dạy trong một môi trường dạy học tương tác [47]. Ngoài những tác giả trên, phải kể đến những nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Viện Đại học Đào tạo Giáo Viên (IUFM) ở Greonoble (Pháp) như C. Artigue, Clause Comiti, Guy Brouseau…đã thiết kế các phương pháp dạy học dựa trên sự tương tác của các cá nhân trong tập thể lớp học. Họ xác nhận cấu trúc hoạt động dạy học bao gồm bốn nhân tố: Học (Người học); Dạy (Người dạy); Kiến thức (khái niệm khoa học); Môi trường (Điều kiện dạy học cụ thể).
Họ đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm, thúc đẩy hoạt động học của học sinh lên mức cao, mà vẫn không làm lu mờ, hạ thấp vai trò của thầy giáo với tư cách là người “khởi xướng” và cũng là người “kết thúc” một tình huống dạy học [21, tr. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này thì yếu tố môi trường chưa được phân tích một cách bao quát hết các khía cạnh và các mặt khác nhau của môi trường dạy học. (1987) cho rằng mỗi tình huống tương tác đều tiềm ẩn khía cạnh hợp tác và xung đột. Tình huống diễn ra và phát triển theo hướng nào phụ thuộc vào thái độ tham gia của các bên liên quan cũng như dựa trên sự thấu hiểu về thái độ và sự chú ý về nhau.
Tóm lại, chỉ khi có sự hợp tác giữa hai bên khi giao tiếp thì sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong khi học cùng nhau [40]. Tác giả còn cho rằng sự tương tác có được là nhờ vào hai yếu tố biểu đạt ngôn ngữ có lời và không lời trong đó yếu tố không lời đóng vai trò quan trọng như là một phần của ngôn ngữ. Một điều mà làm cho lớp học khác với các tình huống xã hội khác chính là mục đích sư 10 Luan van phạm cơ bản. Người dạy sử dụng nhiều thời gian để nói chuyện, giảng bài, hỏi các câu hỏi, và đưa ra sự hướng dẫn, v.
Người dạy không chỉ sử dụng ngôn ngữ cho việc thực hiện các chức năng giảng dạy mà còn dùng chúng để minh họa hay mô tả các sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh lớp học. Theo Bygate, giao tiếp là một trong những kỹ năng mang tính phản xạ, giúp người học sử dụng được ngoại ngữ để bày tỏ ý kiến, suy nghĩ và cảm xúc với người đối diện, người nghe [30]. Kỹ năng giao tiếp cũng góp phần củng cố thêm kỹ năng nghe của người học, giúp tăng cường vốn từ vựng và luyện tập các kỹ năng khác có liên quan. Nhà ngôn ngữ học Khamkhien cho rằng giao tiếp là một trong những kỹ năng quan trọng nhất khi học một ngoại ngữ, trong đó có ngôn ngữ tiếng Anh [38].
Celce-Murcia M – Olshtain E cho rằng ở nhiều góc độ khía cạnh khác nhau thì kỹ năng giao tiếp tiếng Anh được xem như là một kỹ năng khó nhất để đạt được khi đề cập đến sự lưu loát trong giao tiếp, bởi nó đòi hỏi người học phải tích hợp nhiều kỹ năng cùng lúc như cách sử dụng từ vựng, sử dụng ngữ pháp, và còn cả kiến thức xã hội có liên quan đến chủ đề luyện tập và thực hành để tạo nên một cuộc trò chuyện [31]. Ngoài ra, Wongsuwana cho rằng kỹ năng giao tiếp có thể được nâng cao thông qua việc rèn luyện thường xuyên, “nó không phụ thuộc vào tài năng”. Chính lẽ đó, phương pháp luyện tập cùng với quá trình SV rèn luyện thường xuyên sẽ quyết định mức độ tiến bộ của SV. Thêm vào đó, sự tiến bộ này có thể được tích lũy dần dần theo thời gian bằng cách luyện tập thường xuyên trong lớp học cùng với bạn bè, GV, và đồng thời cả việc rèn luyện bên ngoài lớp học cũng như là ngoài giờ học của SV [48].
Nghiên cứu tại Việt Nam Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của giáo dục, vấn đề về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cũng rất được quan tâm. Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và trong sự phát triển của dất nước. Trong đó, tiếng Anh được xem là ngôn ngữ toàn cầu cũng như là ngôn ngữ trong văn hóa thế 11 Luan van hệ trẻ quốc tế [31]. Trước nhu cầu to lớn đó, các hội thảo trong và ngoài nước đã được tiến hành để nâng cao phương pháp giảng dạy tiếng Anh.
Và quan điểm sư phạm học tương tác là một trong những đề tài được các nhà giáo Việt Nam trao đổi rất nhiều trong thời gian gần đây. Lần đầu tiên ở Việt Nam, vào năm 2000, tư tưởng sư phạm học tương tác đã được J. Roy giới thiệu. Trong các tài liệu sư phạm của Liên Xô, Đức và Việt Nam trước đây, người ta đã nói nhiều đến tương tác Dạy-Học.
Vào năm 1992 tại Huế, trong lý thuyết tình huống môn toán của nhóm tác giả người Pháp là G. Margolinas, … nghiên cứu về sự tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy học cũng đã được phổ biến. Tuy nhiên, không lâu sau đó, năm 1995, tại trường ĐHSP TP.HCM, trong hội thảo didactic của những người nói tiếng Pháp thì thuật ngữ sư phạm học tương tác mới được biết đến.