Tổ chức hoạt động đối thoại trong dạy học sử thi Đăm San tại trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích tổ chức hoạt động đối thoại trong dạy học chiến thắng mtao mây trích sử thi đăm san của dân tộc ê, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Đối thoại và dạy học tác phẩm văn chương theo hướng đối thoại

1.2. Những quan niệm khác nhau về đối thoại. Đối thoại trong sáng tác và trong tiếp nhận tác phẩm văn chương

1.3. Đối thoại trong dạy học tác phẩm văn chương

1.4. Những đặc điểm về tâm lí học lứa tuổi và tâm lí tiếp nhận văn chương của học sinh THPT

1.5. Tâm lí học sinh THPT. Tâm lí tiếp nhận văn chương của học sinh THPT

1.6. Cơ sở thực tiễn. Vị trí của trích đoạn “Chiến thắng Mtao- Mxây” trong Sử thi, trong đời sống văn hóa các dân tộc và trong nhà trường phổ thông

1.6.1. Vị trí đoạn trích trong Sử thi

1.6.2. Đoạn trích và Sử thi trong đời sống văn hóa cộng đồng người Tây Nguyên

1.6.3. “Chiến thắng Mtao - Mxây” trong nhà trường phổ thông hiện nay

1.6.4. Đặc điểm tiếp nhận Sử thi- một tác phẩm trong giảng đường khác tiếng

1.7. Chọn và đối chiếu với các bản dịch

1.8. Chọn và giải mã các hình ảnh, ngôn ngữ chưa rõ trong bản dịch

1.9. Vẻ đẹp Sử thi qua các đoạn trích “Chiến thắng Mtao- Mxây” (trích “Đăm San”- Sử thi Ê đê ), “Uy-lit- xơ trở về” (trích “Ô- đi-xê”- Sử thi Hi Lạp) và “Ra- ma buộc tội” (Trích “Ra- ma- ya- na”- Sử thi Ấn Độ)

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC “CHIẾN THẮNG MTAO - MXÂY” (TRÍCH SỬ THI “ĐĂM SAN” CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ) Ở LỚP 10 THPT

2.1. Khảo sát thực trạng dạy học đoạn trích “Chiến thắng Mtao- Mxây” ở trường phổ thông hiện nay

2.2. Mục đích khảo sát

2.3. Đối tượng khảo sát

2.3.1. Đối với học sinh

2.3.2. Đối với giáo viên

2.4. Thời gian khảo sát. Kết quả khảo sát

2.5. Phân tích kết quả khảo sát

2.6. Những yêu cầu có tính nguyên tắc

2.6.1. Bám sát đặc trưng sử thi và sử thi Tây Nguyên

2.6.2. Bám sát sự hình thành và phát triển năng lực so sánh, liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học Sử thi

2.6.3. Kích thích được khả năng đối thoại trong sự liên tưởng về đặc trưng văn hóa của các dân tộc cụ thể

2.6.4. Đối thoại về sự hiện đại hóa người công dân lí tưởng từ khát vọng của dân tộc trong Sử thi

2.6.5. Đối thoại về cách nghĩ cách cảm trong văn hóa của hai thời đại

2.6.6. Các biện pháp dạy học Sử thi Đăm San và đoạn minh họa theo hướng đối thoại

2.6.7. Khơi gợi đề tài Sử thi qua khát vọng chinh phạt tự nhiên và đấu tranh với các tù trưởng, tộc trưởng thể hiện phẩm chất anh hùng vì quyền lợi bộ tộc

2.7. Khơi gợi sự hình thành và phát triển năng lực so sánh qua hệ thống câu hỏi vào những đoạn hay của trường ca và đoạn minh họa

2.8. Liệt kê những tín hiệu nghệ thuật khó hiểu và khơi gợi giải mã các tín hiệu nghệ thuật

2.9. Tổ chức hoạt động dưới hình thức nhóm, cá nhân, đối thoại về những vấn đề về người công dân lí tưởng, những yếu tố phù hợp và không phù hợp. Tạo tâm thế chủ động cho học sinh phát hiện những yếu tố phù hợp với việc đọc hiện đại

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Yêu cầu thực nghiệm

3.3. Địa bàn, đối tượng và bài thực nghiệm

3.3.1. Địa bàn và học sinh thực nghiệm

3.3.2. Bài dạy thực nghiệm

3.4. Thời gian và quá trình tiến hành bài thực nghiệm

3.4.1. Thời gian và quy trình thực nghiệm

3.4.2. Quá trình tiến hành thực nghiệm

3.5. Giáo án thực nghiệm

3.5.1. Yêu cầu chuẩn bị

3.5.2. Đối với giáo viên

3.5.3. Đối với học sinh

3.6. Hướng tiếp cận, tìm hiểu văn bản. Tổ chức thực nghiệm

3.6.1. Giao nhiệm vụ thực nghiệm

3.6.2. Theo dõi quá trình giảng dạy tác phẩm thực nghiệm

3.7. Đánh giá kết quả thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm

3.7.1. Nhận xét tiết thực nghiệm

3.7.2. Nhận xét kết quả điều tra GV và HS

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tổ chức đối thoại trong dạy học sử thi Đăm San

Tổ chức đối thoại trong dạy học sử thi Đăm San là một phương pháp giáo dục hiện đại, giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng giao tiếp. Sử thi Đăm San không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một kho tàng văn hóa của dân tộc Ê Đê. Việc tổ chức đối thoại trong dạy học giúp học sinh hiểu sâu hơn về nội dung và giá trị của tác phẩm, đồng thời khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh trong quá trình học tập.

1.1. Đặc điểm của sử thi Đăm San trong giáo dục

Sử thi Đăm San mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Ê Đê, phản ánh những giá trị nhân văn và lịch sử. Việc dạy học sử thi này không chỉ giúp học sinh tiếp cận văn học mà còn hiểu rõ hơn về văn hóa và phong tục tập quán của dân tộc.

1.2. Vai trò của đối thoại trong dạy học văn học

Đối thoại trong dạy học văn học giúp học sinh phát triển khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Qua việc thảo luận, học sinh có thể chia sẻ quan điểm, cảm nhận và đánh giá tác phẩm một cách sâu sắc hơn.

II. Thách thức trong việc tổ chức đối thoại khi dạy học sử thi Đăm San

Mặc dù tổ chức đối thoại trong dạy học sử thi Đăm San mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gặp phải không ít thách thức. Giáo viên cần phải có kỹ năng tổ chức và quản lý lớp học để đảm bảo mọi học sinh đều có cơ hội tham gia. Bên cạnh đó, sự khác biệt trong trình độ tiếp nhận văn học của học sinh cũng là một yếu tố cần được xem xét.

2.1. Khó khăn trong việc khơi gợi hứng thú học sinh

Nhiều học sinh có thể cảm thấy khó khăn trong việc tiếp cận nội dung của sử thi Đăm San do ngôn ngữ và hình thức biểu đạt đặc trưng. Giáo viên cần tìm ra các phương pháp phù hợp để khơi gợi hứng thú và sự tham gia của học sinh.

2.2. Sự khác biệt trong khả năng tiếp nhận văn học

Mỗi học sinh có một cách tiếp cận và cảm nhận khác nhau về tác phẩm. Điều này có thể dẫn đến sự không đồng nhất trong quá trình thảo luận, đòi hỏi giáo viên phải có khả năng điều chỉnh và hướng dẫn phù hợp.

III. Phương pháp tổ chức hoạt động đối thoại hiệu quả trong dạy học

Để tổ chức hoạt động đối thoại hiệu quả trong dạy học sử thi Đăm San, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Việc sử dụng câu hỏi mở, thảo luận nhóm và các hoạt động tương tác sẽ giúp học sinh tham gia tích cực hơn.

3.1. Sử dụng câu hỏi mở để khuyến khích thảo luận

Câu hỏi mở giúp học sinh tự do bày tỏ ý kiến và cảm nhận của mình về tác phẩm. Điều này không chỉ tạo ra không khí thoải mái mà còn khuyến khích sự sáng tạo trong tư duy.

3.2. Tổ chức thảo luận nhóm nhỏ

Thảo luận nhóm nhỏ giúp học sinh có cơ hội trao đổi ý kiến một cách sâu sắc hơn. Mỗi nhóm có thể thảo luận về một khía cạnh cụ thể của tác phẩm, từ đó tạo ra nhiều góc nhìn khác nhau.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tổ chức đối thoại trong dạy học sử thi Đăm San

Việc tổ chức đối thoại trong dạy học sử thi Đăm San đã được áp dụng tại nhiều trường học và cho thấy những kết quả tích cực. Học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện.

4.1. Kết quả khảo sát thực trạng dạy học

Khảo sát cho thấy rằng việc tổ chức đối thoại giúp học sinh hứng thú hơn với môn học và cải thiện khả năng tiếp nhận văn học. Nhiều học sinh đã bày tỏ sự yêu thích đối với việc thảo luận và chia sẻ ý kiến.

4.2. Phản hồi từ giáo viên và học sinh

Giáo viên nhận thấy rằng việc tổ chức đối thoại không chỉ giúp học sinh hiểu bài tốt hơn mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực. Học sinh cũng cảm thấy tự tin hơn khi được bày tỏ quan điểm của mình.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của tổ chức đối thoại trong dạy học

Tổ chức đối thoại trong dạy học sử thi Đăm San là một phương pháp giáo dục hiệu quả, giúp học sinh phát triển toàn diện. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp mới để nâng cao chất lượng dạy học.

5.1. Định hướng phát triển phương pháp dạy học

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về việc áp dụng tổ chức đối thoại trong dạy học văn học, từ đó phát triển các phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của từng tác phẩm.

5.2. Khuyến khích sự tham gia của học sinh

Cần tạo ra nhiều cơ hội cho học sinh tham gia vào các hoạt động đối thoại, từ đó giúp các em phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Đối thọai và dạy học tác phẩm văn chương theo hướng đối thoại 1. Những quan niệm khác nhau về đối thoại Theo cách hiểu thông thường, đối thoại có nghĩa là: “1. Nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau.

Cuộc đối thoại. Người đối thoại. Đoạn đôi thoại trong vở kịch. Bàn bạc, thương lượng trực tiếp giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp.

Chủ trương không đối đầu mà đối thoại” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên). Theo khái niệm trên đối thoại diễn ra theo nhu cầu con người cần trao đổi thông tin với nhau. Muốn có đối thoại thì phải thỏa mãn hai điều kiện: Thứ nhất, nhân tố tham gia đối thoại phải có từ hai người trở nên, trong đó có người phát tin và người nhận tin. Thứ hai, đối thoại không phải là một chiều mà là nhiều chiều (có lượt lời, hỏi đáp, luân phiên.); trong đó ngữ cảnh đóng vai trò quy định nội dung đối thoại.

Nhìn từ thuật ngữ văn học, đối thoại ngoài nghĩa giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc hơn) thì đối thoại còn là đơn vị văn bản, đoạn tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật và đối thoại là một thể loại văn học ở châu Âu có hình thức đối thoại mà nội dung là diễn đạt một vấn đề tư tưởng, triết học, triết lí, phê bình văn học [1, tr. Theo quan niệm hệ thống- cấu trúc bắt nguồn từ quan điểm của F. De Saussure “ngôn ngữ học nghiên cứ bản thân “ngôn ngữ” với cái logic loại biệt của nó trong tính chung của nó, như một cái gì tạo khả năng giao tiếp cho cuộc đối thoại, còn bản thân các quan hệ đối thoại thì ngôn ngữ học trừu tượng hóa đi một cách triệt để” [2, tr.172] vì Saussure cho rằng những quan hệ đối thoại không thuộc lĩnh vực ngôn ngữ mà thuộc lĩnh vực lời nói; do đó mô hình giao tiếp tuy cũng bao gồm hai chủ đề: người nói- người nghe, nhưng ở đây, người nghe chỉ là người tiếp nhận thụ động chứ chưa phải là người đối thoại. Khác hơn hẳn so với quan niệm cấu trúc, tĩnh tại đó, lí thuyết hoạt động giao tiếp cho rằng sự hiểu một phát ngôn 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao giờ cũng mang tính đối thoại, tính phản ứng, trả lời lại với những mức độ khác nhau, do đót ất yếu dẫn đến sự luân phiên đổi vai trong giao tiếp: người nghe trở thành người nói và ngược lại.

Trong bất cứ cuộc đối thoại nào cũng bao gồm ba vận động chủ yếu: sự trao lời (allocution), sự đáp lời (exchange) và sự tương tác (interactants) làm biến đổi lẫn nhau. Bkhatin: “Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ. Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống ngôn ngữ. Toàn bộ cuộc sống ngôn ngữ trong bất cứ lĩnh vực nào sử dụng nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật.) đều thấm nhuần những quan hệ đối thoại” [2, tr.TS Nguyễn Viết Chữ cũng đã khẳng định đối thoại là một yếu tố có liên quan đến ngôn ngữ: “Ngôn ngữ thực sự hoạt động khi nó thực hiện chức năng mà xã hội dành cho nó.

Đó là chức năng giao tiếp, chức năng của tư duy. Ngôn ngữ đi vào giao tiếp thông qua lời nói cụ thể. Ngôn ngữ là cái cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được. Lời nói là sự hiện thực hóa ngôn ngữ và làm cho ngôn ngữ phát triển.

Lời nói bao giờ cũng gắn với chủ thể và chủ thể in dấu trong lời nói” [6, tr. Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, lời nói được chia làm hai hình thức: lời nói bên trong và lời nói bên ngoài. Lời nói bên trong là lời nói diễn ra trong tư duy và không được thể hiện ra thành âm thanh hoặc chữ viết. Nó không hướng tới hoạt động giao tiếp bên ngoài mà hướng tới chính bản thân mình và khi hướng tới chính bản thân mình thì lời nói chỉ cần diễn ra trong tư duy là đủ.

Hay đó là lời nói nằm ở bình diện tinh thần, tuân theo những quy luật của tư duy là chủ yếu, còn việc tuân theo các quy tắc ngôn ngữ thì không tường minh và khó xác định đúng hoặc sai.Bakhtin cũng cho rằng đối thoại không chỉ diễn ra trực tiếp (nghĩa là thể hiện ở những cuộc nói chuyện, vấn đáp hay tranh luận giữa hai hay nhiều cá nhân) mà còn diễn ra ở dạng đối thoại ngầm trong chính bản thân con người, trong ngôn ngữ và trong sản phảm ngôn ngữ do con người tạo ra. Cơ chế nhận thức khi đó sẽ diễn ra thông qua hai chiều tư duy, mà thực chất là hai chiều đối thoại: đối thoại trong “cái tôi” và đối thoại “tôi với người khác”. Đối thoại trong “cái tôi” là đối thoại ngầm trong tư duy của người tiếp nhận với những câu hỏi tự vấn, những thao tác lựa chọn, so sánh ,đối chiếu. để xác lập nhận thức của mình.

Đối thoại “tôi” và “người khác” là đối thoại giữa những luồng nhận thức, tư tưởng tình cảm, quan 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm, chỗ đứng, điểm nhìn của các chủ thể khác nhau về một vấn đề để tìm ra tri ất của ý thức, tư tưởng con người “ý nghĩ của con người chỉ trở thành ysn ghãi đích thực, tức à trở thành tư tưởng trong điều kiện tiếp xúc sinh động với ý nghĩ của người khác, được thể hiện thành tiếng nói khác, tức là với một ý thức khác được diễn đạt thành ngôn từ[2, tr. Và khi nghiên cứu tiểu thuyết của Đôxtôiepxki, ông đã khẳng định: “Đôxtôiepxki chính đã nhìn thấy và miêu tả tư tưởng một cách nghệ thuật, như là một sự kiện sống động diễn ra giữa các ý thức- tiếng nói” cũng từ sự khám phá nghệ thuật về bản chất đối thoại của tư tưởng, ý thức và bất cứ đời sống con người nào được ý thức rọi tới đã làm cho Đôxtôiepxki trở thành nghệ sĩ vĩ đại của tư tưởng. Con người sống trong xã hội không thể tồn tại nếu không có sự giao lưu, không có sự vận động bằng giao tiếp, đối thoại.Tồn tại có nghĩa là giao tiếp bằng đối thoại. Khi đối thoại kết thúc thì mọi sự cũng hết.

Một tiếng nói không kết thúc gì hết và không giải quyết gì hết. Hai tiếng nói là cái tối thiểu của sự sống, cái tối thiểu của tồn tại” [2, tr. Đối thoại là hoạt động tương tác giữa ít nhất hai chủ thể- những người thiết lập một cách sáng tạo mối liên hệ chung với đối tượng này hay khác của hiện thực, và những đối tượng đó đều có ý nghĩa quan trọng như nhau đối với các chủ thể. Trong quá trình đối thoại, họ thảo luận những tình huống có vấn đề, đặt ra những câu hỏi, hình thành những cách giải quyết.

Đối thoại giúp cho những người tham gia thảo luận một vấn đề nào đó bộc lộ được quan điểm của mình, xây dựng luận chứng cho cách giải quyết vấn đề. Đối thoại giáo dục con người tinh thần cởi mở, độ lượng, trân trọng đối với các ý kiến khác. Với quan niệm nhân văn sâu sắc và cởi mở như vậy, đối thoại hiển nhiên trở thành một vấn đề trung tâm, một phương pháp quen thuộc của giáo dục từ xưa đến nay. Đối thoại trong sáng tác và trong tiếp nhận tác phẩm văn chương M.

Khravchenko có nói: “Tác phẩm nghệ thuật thường trở thành đối tượng của những đụng độ giữa các nhu cầu tinh thần khác loại của người “sử dụng” nghệ thuật ngay khi nó vừa ra đời. Cuộc tranh cãi về sự sống chứa đựng trong một tác phẩm văn chương lớn sẽ được tiếp tục và được phát triển rộng rãi trong độc giả”[30, tr. Tác phẩm tự nó tạo ra nhiều tầng nghĩa bởi những chi tiết, hình ảnh, ngôn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ, âm hưởng nhịp điệu nghệ thuật độc đáo. Một tác phẩm càng lớn thì càng có nhiều tầng nghĩa hàm ngôn và do đó luôn luôn là một ẩn số với người tiếp nhận.

Đã thế trong sáng tác nghệ thuật, điều nói ra không phải bao giờ cũng dễ dàng nhận ra vì “hình tượng lớn hơn tư tưởng”, “ý tại ngôn ngoại”. Trong văn học cái nói ra và cái không nói ra, cái phản ánh và cái biểu hiện, cái khách quan và cái chủ quan. không phải lúc nào cũng dễ phân định. Chính sự đa thanh, đa nghĩa đã tạo nên sự tiếp nhận khác nhau ở người đọc, tạo nên nhu cầu đối thoại, kích thích sự đối thoại trao đổi ở người đọc.

Tính đa nghĩa của tác phẩm nghệ thuật bắt nguồn từ chỗ tác phẩm viết ra để cho người đọc đồng sáng tạo, tạo tiềm năng cho người đọc đồng tưởng tượng, bổ sung, suy đoán., mà đã có sự đồng sáng tạo của người đọc thì không tác phẩm văn chương nào có thể tự đồng nhất chính nó. Một trong những bí ẩn của nghệ thuật là ở chỗ trong rất nhiều trường hợp, người đọc lại có thể hiểu tác phẩm tốt hơn bản thân nhà văn hay ít ra là không như nhà văn. “Trong tiếp nhận, người đọc có thể gặp gỡ với tác giả, trở về với tâm ảnh của tác giả nhưng cũng có thể cách xa, rất xa (so với tác giả) [63, tr. Nhưng người đọc hiểu tác phẩm dù đa dạng thế nào cũng là theo các tín hiệu mà nhà văn phát ra trong tác phẩm.

Ở đây không chỉ có đối thoại giữa cá nhân người đọc với tác giả mà còn là đối thoại giữa cuộc sống, các tầng lớp xã hội, các thời đại lịch sử. Khi đọc Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy , nhiều người lên án Trọng Thủy như một tên gián điệp nham hiểm, một kẻ lừa tình táng tận lương tâm nhưng cũng có người cho rằng trong nhân vật Trọng Thủy phản ánh hai con người: một con người của âm mưu tội ác và một con người của tình yêu chân thành, khi sống làm tròn nghĩa vụ của người con, khi chết làm tròn nghĩa vụ với vợ (?). Tính đa thanh, đa nghĩa của tác phẩm còn thể hiện rõ ở việc xây dựng nhân vật,tính cách nhân vật. Nhân vật Hoàng- một hình tượng quen thuộc trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao là một điển hình.

Trong Đôi mắt của Nam Cao, Hoàng không chỉ là một nhân vật không hợp thời là một cá nhân đứng bên ngoài cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc, là một nhân vật đáng trách, đnags thương hại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ