CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Đối thọai và dạy học tác phẩm văn chương theo hướng đối thoại 1. Những quan niệm khác nhau về đối thoại Theo cách hiểu thông thường, đối thoại có nghĩa là: “1. Nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau.
Cuộc đối thoại. Người đối thoại. Đoạn đôi thoại trong vở kịch. Bàn bạc, thương lượng trực tiếp giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp.
Chủ trương không đối đầu mà đối thoại” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên). Theo khái niệm trên đối thoại diễn ra theo nhu cầu con người cần trao đổi thông tin với nhau. Muốn có đối thoại thì phải thỏa mãn hai điều kiện: Thứ nhất, nhân tố tham gia đối thoại phải có từ hai người trở nên, trong đó có người phát tin và người nhận tin. Thứ hai, đối thoại không phải là một chiều mà là nhiều chiều (có lượt lời, hỏi đáp, luân phiên.); trong đó ngữ cảnh đóng vai trò quy định nội dung đối thoại.
Nhìn từ thuật ngữ văn học, đối thoại ngoài nghĩa giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc hơn) thì đối thoại còn là đơn vị văn bản, đoạn tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật và đối thoại là một thể loại văn học ở châu Âu có hình thức đối thoại mà nội dung là diễn đạt một vấn đề tư tưởng, triết học, triết lí, phê bình văn học [1, tr. Theo quan niệm hệ thống- cấu trúc bắt nguồn từ quan điểm của F. De Saussure “ngôn ngữ học nghiên cứ bản thân “ngôn ngữ” với cái logic loại biệt của nó trong tính chung của nó, như một cái gì tạo khả năng giao tiếp cho cuộc đối thoại, còn bản thân các quan hệ đối thoại thì ngôn ngữ học trừu tượng hóa đi một cách triệt để” [2, tr.172] vì Saussure cho rằng những quan hệ đối thoại không thuộc lĩnh vực ngôn ngữ mà thuộc lĩnh vực lời nói; do đó mô hình giao tiếp tuy cũng bao gồm hai chủ đề: người nói- người nghe, nhưng ở đây, người nghe chỉ là người tiếp nhận thụ động chứ chưa phải là người đối thoại. Khác hơn hẳn so với quan niệm cấu trúc, tĩnh tại đó, lí thuyết hoạt động giao tiếp cho rằng sự hiểu một phát ngôn 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao giờ cũng mang tính đối thoại, tính phản ứng, trả lời lại với những mức độ khác nhau, do đót ất yếu dẫn đến sự luân phiên đổi vai trong giao tiếp: người nghe trở thành người nói và ngược lại.
Trong bất cứ cuộc đối thoại nào cũng bao gồm ba vận động chủ yếu: sự trao lời (allocution), sự đáp lời (exchange) và sự tương tác (interactants) làm biến đổi lẫn nhau. Bkhatin: “Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ. Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống ngôn ngữ. Toàn bộ cuộc sống ngôn ngữ trong bất cứ lĩnh vực nào sử dụng nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật.) đều thấm nhuần những quan hệ đối thoại” [2, tr.TS Nguyễn Viết Chữ cũng đã khẳng định đối thoại là một yếu tố có liên quan đến ngôn ngữ: “Ngôn ngữ thực sự hoạt động khi nó thực hiện chức năng mà xã hội dành cho nó.
Đó là chức năng giao tiếp, chức năng của tư duy. Ngôn ngữ đi vào giao tiếp thông qua lời nói cụ thể. Ngôn ngữ là cái cần thiết để cho lời nói có thể hiểu được. Lời nói là sự hiện thực hóa ngôn ngữ và làm cho ngôn ngữ phát triển.
Lời nói bao giờ cũng gắn với chủ thể và chủ thể in dấu trong lời nói” [6, tr. Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, lời nói được chia làm hai hình thức: lời nói bên trong và lời nói bên ngoài. Lời nói bên trong là lời nói diễn ra trong tư duy và không được thể hiện ra thành âm thanh hoặc chữ viết. Nó không hướng tới hoạt động giao tiếp bên ngoài mà hướng tới chính bản thân mình và khi hướng tới chính bản thân mình thì lời nói chỉ cần diễn ra trong tư duy là đủ.
Hay đó là lời nói nằm ở bình diện tinh thần, tuân theo những quy luật của tư duy là chủ yếu, còn việc tuân theo các quy tắc ngôn ngữ thì không tường minh và khó xác định đúng hoặc sai.Bakhtin cũng cho rằng đối thoại không chỉ diễn ra trực tiếp (nghĩa là thể hiện ở những cuộc nói chuyện, vấn đáp hay tranh luận giữa hai hay nhiều cá nhân) mà còn diễn ra ở dạng đối thoại ngầm trong chính bản thân con người, trong ngôn ngữ và trong sản phảm ngôn ngữ do con người tạo ra. Cơ chế nhận thức khi đó sẽ diễn ra thông qua hai chiều tư duy, mà thực chất là hai chiều đối thoại: đối thoại trong “cái tôi” và đối thoại “tôi với người khác”. Đối thoại trong “cái tôi” là đối thoại ngầm trong tư duy của người tiếp nhận với những câu hỏi tự vấn, những thao tác lựa chọn, so sánh ,đối chiếu. để xác lập nhận thức của mình.
Đối thoại “tôi” và “người khác” là đối thoại giữa những luồng nhận thức, tư tưởng tình cảm, quan 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm, chỗ đứng, điểm nhìn của các chủ thể khác nhau về một vấn đề để tìm ra tri ất của ý thức, tư tưởng con người “ý nghĩ của con người chỉ trở thành ysn ghãi đích thực, tức à trở thành tư tưởng trong điều kiện tiếp xúc sinh động với ý nghĩ của người khác, được thể hiện thành tiếng nói khác, tức là với một ý thức khác được diễn đạt thành ngôn từ[2, tr. Và khi nghiên cứu tiểu thuyết của Đôxtôiepxki, ông đã khẳng định: “Đôxtôiepxki chính đã nhìn thấy và miêu tả tư tưởng một cách nghệ thuật, như là một sự kiện sống động diễn ra giữa các ý thức- tiếng nói” cũng từ sự khám phá nghệ thuật về bản chất đối thoại của tư tưởng, ý thức và bất cứ đời sống con người nào được ý thức rọi tới đã làm cho Đôxtôiepxki trở thành nghệ sĩ vĩ đại của tư tưởng. Con người sống trong xã hội không thể tồn tại nếu không có sự giao lưu, không có sự vận động bằng giao tiếp, đối thoại.Tồn tại có nghĩa là giao tiếp bằng đối thoại. Khi đối thoại kết thúc thì mọi sự cũng hết.
Một tiếng nói không kết thúc gì hết và không giải quyết gì hết. Hai tiếng nói là cái tối thiểu của sự sống, cái tối thiểu của tồn tại” [2, tr. Đối thoại là hoạt động tương tác giữa ít nhất hai chủ thể- những người thiết lập một cách sáng tạo mối liên hệ chung với đối tượng này hay khác của hiện thực, và những đối tượng đó đều có ý nghĩa quan trọng như nhau đối với các chủ thể. Trong quá trình đối thoại, họ thảo luận những tình huống có vấn đề, đặt ra những câu hỏi, hình thành những cách giải quyết.
Đối thoại giúp cho những người tham gia thảo luận một vấn đề nào đó bộc lộ được quan điểm của mình, xây dựng luận chứng cho cách giải quyết vấn đề. Đối thoại giáo dục con người tinh thần cởi mở, độ lượng, trân trọng đối với các ý kiến khác. Với quan niệm nhân văn sâu sắc và cởi mở như vậy, đối thoại hiển nhiên trở thành một vấn đề trung tâm, một phương pháp quen thuộc của giáo dục từ xưa đến nay. Đối thoại trong sáng tác và trong tiếp nhận tác phẩm văn chương M.
Khravchenko có nói: “Tác phẩm nghệ thuật thường trở thành đối tượng của những đụng độ giữa các nhu cầu tinh thần khác loại của người “sử dụng” nghệ thuật ngay khi nó vừa ra đời. Cuộc tranh cãi về sự sống chứa đựng trong một tác phẩm văn chương lớn sẽ được tiếp tục và được phát triển rộng rãi trong độc giả”[30, tr. Tác phẩm tự nó tạo ra nhiều tầng nghĩa bởi những chi tiết, hình ảnh, ngôn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ, âm hưởng nhịp điệu nghệ thuật độc đáo. Một tác phẩm càng lớn thì càng có nhiều tầng nghĩa hàm ngôn và do đó luôn luôn là một ẩn số với người tiếp nhận.
Đã thế trong sáng tác nghệ thuật, điều nói ra không phải bao giờ cũng dễ dàng nhận ra vì “hình tượng lớn hơn tư tưởng”, “ý tại ngôn ngoại”. Trong văn học cái nói ra và cái không nói ra, cái phản ánh và cái biểu hiện, cái khách quan và cái chủ quan. không phải lúc nào cũng dễ phân định. Chính sự đa thanh, đa nghĩa đã tạo nên sự tiếp nhận khác nhau ở người đọc, tạo nên nhu cầu đối thoại, kích thích sự đối thoại trao đổi ở người đọc.
Tính đa nghĩa của tác phẩm nghệ thuật bắt nguồn từ chỗ tác phẩm viết ra để cho người đọc đồng sáng tạo, tạo tiềm năng cho người đọc đồng tưởng tượng, bổ sung, suy đoán., mà đã có sự đồng sáng tạo của người đọc thì không tác phẩm văn chương nào có thể tự đồng nhất chính nó. Một trong những bí ẩn của nghệ thuật là ở chỗ trong rất nhiều trường hợp, người đọc lại có thể hiểu tác phẩm tốt hơn bản thân nhà văn hay ít ra là không như nhà văn. “Trong tiếp nhận, người đọc có thể gặp gỡ với tác giả, trở về với tâm ảnh của tác giả nhưng cũng có thể cách xa, rất xa (so với tác giả) [63, tr. Nhưng người đọc hiểu tác phẩm dù đa dạng thế nào cũng là theo các tín hiệu mà nhà văn phát ra trong tác phẩm.
Ở đây không chỉ có đối thoại giữa cá nhân người đọc với tác giả mà còn là đối thoại giữa cuộc sống, các tầng lớp xã hội, các thời đại lịch sử. Khi đọc Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy , nhiều người lên án Trọng Thủy như một tên gián điệp nham hiểm, một kẻ lừa tình táng tận lương tâm nhưng cũng có người cho rằng trong nhân vật Trọng Thủy phản ánh hai con người: một con người của âm mưu tội ác và một con người của tình yêu chân thành, khi sống làm tròn nghĩa vụ của người con, khi chết làm tròn nghĩa vụ với vợ (?). Tính đa thanh, đa nghĩa của tác phẩm còn thể hiện rõ ở việc xây dựng nhân vật,tính cách nhân vật. Nhân vật Hoàng- một hình tượng quen thuộc trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao là một điển hình.
Trong Đôi mắt của Nam Cao, Hoàng không chỉ là một nhân vật không hợp thời là một cá nhân đứng bên ngoài cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc, là một nhân vật đáng trách, đnags thương hại.