Tổ Chức Dạy Học Định Luật Newton Theo Hướng Kết Nối Thực Tế

Dạy học định luật Newton gắn liền thực tiễn cuộc sống. Bài viết về phương pháp dạy học dựa trên vấn đề, kết nối kiến thức và ứng dụng thực tế.

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Chuyên ngành

Sư phạm Vật lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2023

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Khách thể nghiên cứu

4. Câu hỏi nghiên cứu

5. Giả thuyết khoa học

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1. Nghiên cứu lý luận

6.2. Nghiên cứu thực trạng

6.3. Nghiên cứu giải pháp

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.3. Phương pháp toán học

8. Cấu trúc của luận văn

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH

1.1. Dạy học dựa trên vấn đề

1.1.1. Định nghĩa dạy học dựa trên vấn đề

1.1.2. Mục tiêu của dạy học dựa trên vấn đề

1.1.3. Những đặc điểm cơ bản của dạy học dựa trên vấn đề [10]

1.1.4. Xây dựng vấn đề trong dạy học dựa trên vấn đề

1.1.5. Ưu nhược điểm của dạy học dựa trên vấn đề [7]

1.1.6. Qui trình tổ chức dạy học dựa trên vấn đề

1.2. Năng lực giải quyết vấn đề

1.2.1. Định nghĩa năng lực

1.2.2. Định nghĩa năng lực giải quyết vấn đề

1.2.3. Cấu trúc và biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề [7], [8]

1.2.4. Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học PBL [7], [8]

1.3. Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề ở một số trường Trung học phổ thông thuộc Huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

1.3.1. Mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp điều tra

1.3.2. Kết quả điều tra [8]

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ PHẦN CÁC ĐỊNH LUẬT NEWTON THEO ĐỊNH HƯỚNG KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

2.1. So sánh chương trình vật lý 10 sách kết nối tri thức với cuộc sống và sách hiện hành

2.1.1. So sánh về chương trình

2.1.2. So sánh cấu trúc bài học

2.1.3. So sánh cấu trúc nội dung phần các định luật Newton

2.2. Tổ chức dạy học dựa trên vấn đề phần các định luật Newton

2.2.1. Mục tiêu dạy học [2]

2.2.2. Xây dựng các vấn đề trong dạy học phần các định luật Newton

2.2.3. Quy trình dạy học dựa trên vấn đề thể hiện qua tiến trình dạy học

2.2.4. Kế hoạch dạy học dựa trên vấn đề áp dụng cho phần các định luật Newton

2.2.5. Xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá lực giải quyết vấn đề của HS [7]

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm

3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.2. Đối tượng và thời gian thực nghiệm sư phạm

3.3. Tiến trình thực nghiệm sư phạm

3.3.1. Chọn mẫu thực nghiệm

3.3.2. Mô tả tiến trình thực nghiệm

3.4. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Đánh giá diễn biến của tiến trình dạy học đã thiết kế với mục đích phát triển năng lực giải quyết vấn đề

3.4.2. Phân tích các dữ liệu thu được để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của nhóm 6 học sinh

3.4.3. Phân tích các dữ liệu thu được để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của cả lớp [7]

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dạy Học Dựa Trên Vấn Đề Định Luật Newton

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, việc đổi mới giáo dục trở nên cấp thiết. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng đến mục tiêu phát triển năng lực tự chủ, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh. Dạy học dựa trên vấn đề (DTVĐ), đặc biệt là trong môn Vật lý, là một phương pháp phù hợp để bồi dưỡng năng lực này. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của DTVĐ, tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu áp dụng cho chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, đặc biệt là phần các định luật Newton. Luận văn này tập trung vào việc tổ chức dạy học dựa trên vấn đề phần các định luật Newton theo định hướng kết nối tri thức với cuộc sống, nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THPT. Việc tích hợp ứng dụng định luật Newton vào thực tế đời sống sẽ làm cho môn học trở nên sinh động và thu hút hơn. Theo Diana F Wood, DTVĐ là khi HS sử dụng các tình huống có vấn đề để xác định mục tiêu học tập của riêng mình.

1.1. Định Nghĩa Dạy Học Dựa Trên Vấn Đề DTVĐ Newton

Dạy học DTVĐ là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích các em tham gia giải quyết các vấn đề thực tế liên quan đến kiến thức cần học. Học sinh sử dụng kiến thức mới (do giáo viên cung cấp hoặc tự tìm kiếm) để giải quyết vấn đề. Điều này giúp học sinh vừa giải quyết các vấn đề thực tiễn, vừa lĩnh hội kiến thức một cách chủ động và hiệu quả. Những vấn đề thực tế trong cuộc sống chính là nguồn cảm hứng, khơi gợi nhu cầu học tập cho học sinh. Theo Barrow và Kelson, DTVĐ vừa là chương trình, vừa là quá trình, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, tự họcgiải quyết vấn đề.

1.2. Mục Tiêu Của Dạy Học Dựa Trên Vấn Đề Định Luật Newton

Dạy học DTVĐ hướng đến các mục tiêu kiến thức, kỹ năng và thái độ. Về kiến thức, giúp học sinh nắm vững và ghi nhớ lâu hơn kiến thức, hiểu sâu sắc các khái niệm. Về kỹ năng, phát triển kỹ năng tự học, tìm kiếm giải pháp, làm việc nhóm, hợp tác, thảo luận, thuyết trình và giải quyết vấn đề. Về thái độ, tạo sự gắn bó, yêu thích môn học, tôn trọng quan điểm của người khác, phát triển tư duy phản biện và tinh thần chủ động, trách nhiệm. Đặc biệt, với môn Vật lí, DTVĐ giúp học sinh tìm kiếm, phát hiện các định luật, thuyết, nguyên lý và hiện tượng vật lý trong các sự kiện thực tế, hiểu biết về phương pháp thực nghiệm, làm việc với thông tin, rèn luyện kỹ năng thực hành, và tạo hứng thú học tập. Mục tiêu cuối cùng là kết nối tri thức cuộc sống định luật Newton để HS hiểu rõ định luật Newton trong cuộc sống hàng ngày.

II. Thách Thức Dạy Định Luật Newton Gắn Với Thực Tiễn

Việc dạy và học định luật Newton hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Học sinh thường gặp khó khăn trong việc ứng dụng định luật Newton vào thực tế. Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là truyền thụ kiến thức một chiều, ít tạo cơ hội cho học sinh tự khám phá và trải nghiệm. Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc thiết kế các hoạt động học tập gắn liền với thực tiễn, chưa khai thác triệt để tiềm năng của phương pháp dạy học trải nghiệm định luật Newton. Theo kết quả khảo sát, nhiều giáo viên chưa hiểu rõ về phương pháp DTVĐ, chưa phân biệt được DTVĐ với dạy học giải quyết vấn đề truyền thống. Điều này dẫn đến việc áp dụng DTVĐ một cách hình thức, thiếu hiệu quả. Hơn nữa, việc đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh còn gặp nhiều khó khăn, chưa có công cụ đánh giá phù hợp và chính xác.

2.1. Thực Trạng Dạy Học Định Luật Newton Hiện Nay

Thực tế cho thấy, việc dạy và học định luật Newton vẫn còn nhiều hạn chế. Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là truyền thụ kiến thức một chiều, ít tạo cơ hội cho học sinh tự khám phá và trải nghiệm. Nội dung giảng dạy chưa thực sự gắn liền với cuộc sống hàng ngày, khiến học sinh khó hình dung và vận dụng kiến thức vào thực tế. Việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu tập trung vào khả năng tái hiện kiến thức, ít chú trọng đến khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo. Hơn nữa, nhiều học sinh còn thiếu hứng thú với môn Vật lý, coi đây là môn học khô khan, khó hiểu.

2.2. Khó Khăn Khi Triển Khai Dạy Học DTVĐ Định Luật Newton

Việc triển khai dạy học DTVĐ phần định luật Newton gặp phải một số khó khăn nhất định. Thứ nhất, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng sư phạm tốt, và sự sáng tạo trong thiết kế bài giảng. Thứ hai, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, và tài liệu học tập. Thứ ba, yêu cầu học sinh phải chủ động, tích cực tham gia vào quá trình học tập, có khả năng tự học, làm việc nhóm, và giải quyết vấn đề. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, học sinh, và phụ huynh để tạo môi trường học tập hiệu quả.

III. Giải Pháp Thiết Kế Dạy Học DTVĐ Kết Nối Tri Thức Newton

Để khắc phục những hạn chế trên, luận văn đề xuất giải pháp thiết kế dạy học dựa trên vấn đề phần các định luật Newton, theo định hướng kết nối tri thức với cuộc sống. Giải pháp này tập trung vào việc xây dựng các tình huống có vấn đề thực tế, gắn liền với cuộc sống hàng ngày của học sinh. Các tình huống này sẽ kích thích sự tò mò, hứng thú của học sinh, khơi gợi nhu cầu tìm tòi, khám phá kiến thức mới. Đồng thời, tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, và làm việc nhóm. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ, và tạo điều kiện cho học sinh chủ động tham gia vào quá trình học tập. Các tình huống có thể liên quan đến ví dụ thực tế định luật Newton, bài tập định luật Newton thực tế hay hoạt động dạy học định luật Newton.

3.1. Quy Trình Thiết Kế Bài Giảng DTVĐ Định Luật Newton

Việc thiết kế bài giảng DTVĐ phần định luật Newton cần tuân thủ quy trình sau: (1) Xác định mục tiêu bài học, (2) Lựa chọn hoặc xây dựng tình huống có vấn đề phù hợp, (3) Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh khám phá kiến thức, (4) Thiết kế các hoạt động học tập đa dạng, phong phú, (5) Chuẩn bị tài liệu học tập, trang thiết bị, và phương tiện dạy học, (6) Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, và (7) Tổ chức hoạt động phản hồi, đánh giá kết quả học tập. Tình huống nên liên quan đến kết nối tri thức cuộc sống định luật Newton.

3.2. Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Định Luật Newton

Trong quá trình dạy học, giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực khác nhau, như: (1) Dạy học theo nhóm, (2) Dạy học dự án, (3) Dạy học khám phá, (4) Dạy học trải nghiệm, và (5) Dạy học STEM định luật Newton. Các phương pháp này giúp học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo, và làm việc nhóm. Đồng thời, tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, và làm việc nhóm. Phương pháp dạy học sáng tạo định luật Newton cũng cần được khuyến khích.

3.3. Xây dựng công cụ kiểm tra đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của HS

Để đánh giá sự phát triển năng lực của HS qua từng bài học, GV cần có sự quan sát cẩn thận từng hoạt động của HS và đưa ra những nhận xét và có những phản hồi, điều chỉnh sự hỗ trợ với HS. Dựa vào các năng lực thành phần và biểu hiện của nó có thể xây dựng một bảng tiêu chí (rubric) đánh giá năng lực GQVĐ của HS trong quá trình học tập. GV cần xây dựng bảng kiểm quan sát các hành vi biểu hiện của cá nhân học sinh.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Giáo Án Định Luật Newton Kết Nối Thực Tiễn

Luận văn trình bày chi tiết kế hoạch bài dạy (giáo án) mẫu cho phần các định luật Newton, theo phương pháp dạy học dựa trên vấn đề, định hướng kết nối tri thức với cuộc sống. Giáo án này bao gồm các hoạt động cụ thể, như: (1) Khởi động bằng tình huống có vấn đề thực tế, (2) Tổ chức hoạt động nhóm để học sinh giải quyết vấn đề, (3) Hướng dẫn học sinh tìm kiếm thông tin, phân tích dữ liệu, và đưa ra kết luận, (4) Tạo cơ hội cho học sinh trình bày, phản biện, và đánh giá kết quả học tập, và (5) Tổng kết, hệ thống hóa kiến thức. Ví dụ, một tình huống có thể là: Tại sao khi xe phanh gấp, người ngồi trên xe có xu hướng lao về phía trước? Qua đó giúp thiết kế bài giảng định luật Newton hiệu quả hơn.

4.1. Ví Dụ Cụ Thể Về Tình Huống DTVĐ Định Luật Newton

Một ví dụ cụ thể về tình huống có vấn đề có thể là: “Tại sao khi xe phanh gấp, người ngồi trên xe có xu hướng lao về phía trước?” Tình huống này gắn liền với cuộc sống hàng ngày của học sinh, kích thích sự tò mò, hứng thú, và khơi gợi nhu cầu tìm hiểu về định luật quán tính. Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhóm để học sinh thảo luận, tìm kiếm thông tin, và đưa ra giải thích. Sau đó, giáo viên có thể cung cấp kiến thức về định luật quán tính và hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức này để giải thích hiện tượng trên.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Giáo Án Định Luật Newton DTVĐ

Để đánh giá hiệu quả của giáo án DTVĐ, giáo viên cần sử dụng các công cụ đánh giá phù hợp, như: (1) Bảng kiểm quan sát hoạt động của học sinh, (2) Phiếu đánh giá sản phẩm học tập, (3) Bài kiểm tra trắc nghiệm, và (4) Bài kiểm tra tự luận. Các công cụ này giúp giáo viên đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng giải quyết vấn đề, và thái độ học tập của học sinh. Đồng thời, cung cấp thông tin phản hồi để giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy. Việc kiểm tra đánh giá cần hướng đến việc đánh giá năng lực giải quyết vấn đề định luật Newton của HS.

V. Thực Nghiệm Sư Phạm Đánh Giá Hiệu Quả Dạy DTVĐ Newton

Để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của giải pháp đề xuất, luận văn tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT. Kết quả thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng dạy học dựa trên vấn đề phần các định luật Newton giúp học sinh nắm vững kiến thức, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, và tăng cường hứng thú học tập. So với phương pháp dạy học truyền thống, DTVĐ giúp học sinh chủ động, tích cực hơn trong quá trình học tập, có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế, và phát triển năng lực tư duy, sáng tạo. Từ đó dạy học tích hợp định luật Newton hiệu quả hơn.

5.1. Phương Pháp Thực Nghiệm Dạy Học DTVĐ

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương pháp đối chứng. Một nhóm học sinh được dạy theo phương pháp dạy học dựa trên vấn đề, nhóm còn lại được dạy theo phương pháp truyền thống. Sau một thời gian, hai nhóm học sinh được kiểm tra, đánh giá về kiến thức, kỹ năng, và thái độ học tập. Kết quả kiểm tra, đánh giá được so sánh, phân tích để rút ra kết luận về hiệu quả của dạy học dựa trên vấn đề.

5.2. Kết Quả Và Phân Tích Thực Nghiệm Dạy Học DTVĐ

Kết quả thực nghiệm cho thấy, nhóm học sinh được dạy theo phương pháp dạy học dựa trên vấn đề có điểm số cao hơn, kỹ năng giải quyết vấn đề tốt hơn, và hứng thú học tập cao hơn so với nhóm học sinh được dạy theo phương pháp truyền thống. Điều này chứng tỏ, dạy học dựa trên vấn đề là một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp học sinh phát triển năng lực toàn diện. Điều này cũng cho thấy dạy học giải quyết vấn đề định luật Newton đã mang lại kết quả khả quan.

VI. Kết Luận Triển Vọng Dạy Học DTVĐ Định Luật Newton

Luận văn đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học dựa trên vấn đề phần các định luật Newton, theo định hướng kết nối tri thức với cuộc sống. Giải pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, mà còn tăng cường hứng thú học tập và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển các phương pháp dạy học DTVĐ phù hợp với từng đối tượng học sinh và từng nội dung kiến thức. Đồng thời, cần tăng cường bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng thiết kế bài giảng DTVĐ, xây dựng các công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề hiệu quả.

6.1. Hướng Phát Triển Dạy Học DTVĐ Định Luật Newton

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển các phương pháp dạy học DTVĐ phù hợp với từng đối tượng học sinh và từng nội dung kiến thức. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học, tạo ra các môi trường học tập tương tác, sinh động, và hấp dẫn. Đồng thời, cần khuyến khích học sinh tự học, tự nghiên cứu, và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

6.2. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Newton

Để nâng cao chất lượng dạy và học định luật Newton, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, học sinh, phụ huynh, và nhà trường. Giáo viên cần không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, và sự sáng tạo. Học sinh cần chủ động, tích cực tham gia vào quá trình học tập, có tinh thần tự giác, kỷ luật, và trách nhiệm. Phụ huynh cần quan tâm, động viên, và tạo điều kiện cho con em học tập tốt. Nhà trường cần cung cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, và tài liệu học tập đầy đủ, hiện đại. Việc hoạt động dạy học định luật Newton cần được đầu tư và chú trọng.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề trong dạy học truyền thống và dạy học DTVĐ Những vấn đề gắn liền với thực tế cuộc sống sẽ tạo hứng thú, lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học. Có những trường hợp, câu trả lời chưa hẳn là một phương án duy nhất đúng mà nó có thể là những giải pháp chấp nhận được, ta gọi đó là những giải pháp mở hay kết luận mở. Trong những giải pháp hay kết luận mở đó lại có những vấn đề mới nảy sinh lôi cuốn HS tiếp tục khám phá GQVĐ. Người học tự tìm tòi để xác định nguồn thông tin giải quyết vấn đề Trên cơ sở vấn đề thực tế được đặt ra, người học có động cơ và hào hứng tìm cách GQVĐ.

Người học phải chủ động tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (thư viện, phim, ảnh, sách, báo, internet…). Để HS có thể nhanh chóng tìm được nguồn thông tin hữu ích, giáo viên có thể định hướng cụ thể cho HS nên tìm kiếm thông tin trên kênh youtube nào, trang web nào hay trong sách nào.Nếu học sinh ở vùng khó khăn không dễ tìm kiếm thông tin thì giáo viên có thể cung cấp tài liệu để HS tự nghiên cứu. Học sinh có thể nhờ sự trợ giúp của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan, tuy nhiên sự hỗ trợ này chỉ mang tính định hướng, gợi ý còn việc GQVĐ vẫn là nhiệm vụ của người học. Để người học có thể tìm kiếm thông tin nhanh nhất và phong phú nhất thì trong lớp học theo dạy học DTVĐ rất cần trang bị cho mỗi nhóm một công cụ như máy tính cá nhân hay Ipad có kết nối internet.

Giáo viên cũng có thể cho phép HS mang điện thoại và sử dụng trong quá trình tìm kiếm thông tin để GQVĐ. Trong trường hợp không làm được những điều trên thì giáo viên cần đưa vấn đề trước buổi học vài 8 ngày để HS tìm kiếm thông tin ở nhà. Cách khác nữa, giáo viên có thể thiết kế các phiếu thông tin khác nhau để cung cấp cho HS vào đầu buổi học. Người học trong dạy học DTVĐ thực sự đóng vai trò trung tâm, họ tự quyết định chiến lược học tập, tự tìm kiếm thông tin, trau dồi kiến thức và đề xuất giải pháp GQVĐ.

Học sinh cũng nên được phát phiếu tự đánh giá với tiêu chí đánh cụ thể để học sinh có thể tự đánh giá bản thân trong quá trình học tập. Thảo luận nhóm là hoạt động cốt lõi Trong dạy học DTVĐ, lớp học được chia thành nhóm nhỏ. Tình huống thực tế mà giáo viên đặt ra ngay đầu buổi học là một tình huống phức tạp, HS rất cần thảo luận với nhau để phát hiện ra vấn đề cần giải quyết, xác định vấn đề nào là quan trọng cần tập trung. Khi đã tìm được vấn đề, nhóm cũng cần trao đổi để xác định những thuật ngữ, khái niệm còn chưa rõ nghĩa trong vấn đề và xác định kiến thức cần tìm hiểu.

Trong hoạt động nhóm, HS sẽ thảo luận và chất vấn lẫn nhau để tìm ra giải pháp GQVĐ. Để hoạt động nhóm đạt hiệu quả thì nhóm chỉ nên có từ 3 – 6 người. Nhóm cần được tổ chức và phân công nhiệm vụ rõ ràng, ai là nhóm trưởng, thư ký, người làm báo cáo, người thuyết trình… Sự phân công nhiệm vụ nên được thảo luận thống nhất và dựa trên thế mạnh của mỗi thành viên trong nhóm. Ngoài ra, mỗi thành viên trong nhóm cần rèn luyện các kĩ năng như lắng nghe, nhận phản hồi và phản hồi ý kiến; Tinh thần trách nhiệm với công việc được giao, tôn trọng và sẵn sàng giúp đỡ các thành viên trong nhóm.

Giáo viên cũng nên gửi trước cho nhóm bản tiêu chí đánh giá nhóm để các em có thể đánh giá lẫn nhau từ đó có thể phản hồi để giúp nhau làm việc tốt hơn. Có thể tóm tắt quá trình làm việc nhóm trong dạy học DTVĐ theo sơ đồ sau: 9 HĐ NHÓM Tìm hiểu vấn đề HĐ NHÓM HĐ NHÓM Thảo luận, chất vấn lẫn nhau để Xác định các thuật ngữ, khái thống nhất giải pháp niệm, kiến thức cần tìm hiểu HĐ CÁ NHÂN HĐ CÁ NHÂN Trau dồi kiến thức, đưa ra giải Tìm kiếm thông tin liên quan pháp cho vấn đề đến vấn đề từ nhiều nguồn HĐ NHÓM HĐ NHÓM Thống nhất cách hiểu vấn đề, Chia sẻ thông tin, sự hiểu biết về xác định khoảng trống kiến thức vấn đề của mỗi thành viên Sơ đồ 1. Quy trình làm việc nhóm trong dạy học DTVĐ Trong quá trình tổ chức hoạt động của các nhóm, GV có thể sử dụng một số kĩ thuật sau: - Kĩ thuật “ Động não”: là một kỹ thuật huy động nhiều ý tưởng về một chủ đề. Trong thời gian nhất định, mỗi thành viên trong nhóm lần lượt đưa ra các ý tưởng xung quanh một vấn đề.

Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên nhằm mục đích thu thập được nhiều ý tưởng nhất. Từ các ý tưởng đó nhóm sẽ thảo luận và tìm ra giải pháp khả thi nhất. - Kĩ thuật “ Khăn trải bàn”: là một kĩ thuật kết hợp hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân. Mỗi thành viên có thời gian để làm việc cá nhân tìm kiếm thông tin và ý tưởng về một vấn đề rồi ghi lại vào một góc tờ giấy.

Sau đó các thành viên sẽ chia sẻ ý tưởng cho cả nhóm, cuối cùng nhóm thảo luận và thống nhất ý tưởng ghi vào giữa tờ giấy. - Kĩ thuật “ KWLH”: Là hoạt động cá nhân, có thể tách làm hai giai đoạn, KW là viết ra điều đã biết và điều muốn biết thêm về nội dung bài học ngay phần 10 khởi động đầu giờ, LH tổng kết điều đã học được và những gì có thể ứng dụng trong cuộc sống hoặc mở rộng thêm sau bài học được tổ chức ở cuối mỗi bài học. Vai trò của giáo viên chỉ mang tính hỗ trợ Trong dạy học truyền thống, giáo viên như một chuyên gia cung cấp kiến thức cho HS. Ngược lại, trong dạy học DTVĐ giáo viên chỉ là người cung cấp sự kiện, tình huống có vấn đề trong thực tế để kích thích, lôi cuốn HS tham gia vào GQVĐ.

Trong DTVĐ, khi HS đang tự mình tìm kiếm giải pháp để GQVĐ thì giáo viên sẽ đóng vai trò của một người định hướng, người trợ giúp, người đánh giá. GV có thể định hướng thông qua các câu hỏi gợi ý để giúp HS đi đúng hướng. GV cũng có thể trợ giúp HS bằng cách chỉ ra các nguồn tìm kiếm thông tin, giải đáp các thắc mắc.Đồng thời GV có thể đánh giá các giả thuyết và kết luận của HS trong quá trình làm việc, đánh giá về hoạt động của nhóm. Ngoài ra, giáo viên còn hỗ trợ HS để hệ thống hóa kiến thức và khái quát hóa các kết luận rút ra được trong quá trình GQVĐ.

Giáo viên đồng hành với HS trong quá trình hoạt động nhóm, cần khuyến khích học sinh trao đổi để thúc đẩy việc thảo luận, phản hồi, chất vấn. Tuy nhiên, GV tuyệt đối không trả lời thay HS hay can thiệp vào các ý kiến tranh luận làm gián đoạn quá trình thảo luận của các nhóm. Nếu học sinh gặp khó khăn trong việc GQVĐ, GV chỉ cho HS những gợi ý và nhấn mạnh những câu hỏi mở để HS có hướng đi tiếp theo. Có thể thấy rõ sự thay đổi vai trò của GV và HS trong dạy học DTVĐ so với dạy học truyền thống trong bảng so sánh dưới đây: Bảng 1.

So sánh vai trò của GV và HS trong dạy học truyền thống và dạy học DTVĐ Dạy học truyền thống Dạy học PBL Vai trò của GV - Người truyền thụ. - Người tổ chức và định hướng. - Hướng dẫn suy nghĩ. - Giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi định hướng quá trình suy nghĩ.

- Định hướng, điều tiết, giám sát việc 11 - Điều khiển quá trình học tập của HS học, điều chỉnh mức độ khó. thông qua truyền thụ kiến thức. - Nhập cuộc, quản lí hoạt động nhóm - Quản lí HS trong giờ học. và quá trình học tập.

- Đánh giá quá trình GQVĐ. - Đánh giá người học. Vai trò của HS - Là người tiếp thu kiến thức từ giáo - Là người tham dự, chủ thể tìm hiểu và viên. chiếm lĩnh kiến thức.

- Tiếp thu kiến thức một cách bị động - Chủ động lên kế hoạch và thực hiện thông qua nghe giảng và ghi chép. hoạt động GQVĐ. - Học thụ động theo sự hướng dẫn của - Chủ động khám phá, tìm kiếm tài liệu GV và đi theo kết cấu bài học trong từ nhiều nguồn và tự học được kiến SGK. thức trong khi GQVĐ - Tái tạo kiến thức, thu nhận và kiểm - Tổng hợp, xây dựng và tích lũy kiến nghiệm thông qua những ví dụ giáo thức để giải quyết vấn đề trong thực tế.

viên đưa ra hoặc gợi ý trong SGK. Học tập là cuộc sống. Xây dựng vấn đề trong dạy học dựa trên vấn đề Trong dạy học truyền thống, những vấn đề khi đưa ra thường không gắn liền với thực tế cuộc sống và đã có sẵn câu trả lời đúng, một giải pháp đúng duy nhất gọi là vấn đề có cấu trúc. Đa số các vấn đề mà SGK đưa ra đều có một đáp án duy nhất đúng.

Những vấn đề được đặt ra trong dạy học DTVĐ là vấn đề phi cấu trúc, đó là những vấn đề này thường không có câu trả lời theo một khuôn mẫu có sẵn mà là chiến lược GQVĐ sao cho hợp lí và thuyết phục nhất. Có nhiều cách hiểu vấn đề phi cấu trúc như sau: Theo Wash: “Những vấn đề mà mục đích thông tin không đầy đủ, không rõ ràng”[9] Theo Howard, MCGree, Chin & Chia: “Những vấn đề hỗn độn, phức hợp trong tự nhiên, nó đòi hỏi sự khảo sát, thu thập thông tin giải quyết. Tuy nhiên các 12 giải pháp giải GQVĐ không đơn giản và không có giải pháp chính xác mà là các giải pháp phù hợp với thực tế” [9] Bí quyết thành công trong dạy học DTVĐ chính là khâu thiết kế và chọn vấn đề. Vấn đề phải luôn gắn với nhu cầu của người học.

Vấn đề đặt ra phải làm sao khiến việc tìm giải pháp cho vấn đề thu hút được sự quan tâm học sinh, phù hợp với mục tiêu của bài. Việc tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề phải đủ khó để thách thức người học đưa ra nhiều phương án, đeo đuổi và nghiên cứu thêm những tài liệu bên ngoài; vấn đề cũng không nên quá dễ khiến các nhóm học sinh có thể giải quyết vấn đề mà không có một quá trình nghiên cứu đáng kể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ