Phần mở đầu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, những điểm nổi bật của luận văn và kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước: Trình bày các khái niệm, tổng quan các lý thuyết, các nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu: Tổng quan địa bàn nghiên cứu, mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả tính toán các chỉ tiêu nghèo đa chiều, kết quả phân tích mô hình kinh tế lượng.
Kết luận và kiến nghị: những hạn chế của nghiên cứu, kết luận và kiến nghị. 6 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Khái niệm trẻ em Theo Từ điển Xã hội học, trẻ em là nhóm ở trong quá trình xã hội hóa (tiếp nhận những kỹ năng và tri thức để có thể tham gia hoạt động xã hội độc lập), nói đúng hơn đó là nhóm ở trong giai đoạn đầu tiên của xã hội hóa. Về luật pháp người ta coi đó là vị thành niên.
Tuy nhiên, tùy theo các giác độ tiếp cận khác nhau về trẻ em mà có những định nghĩa khác nhau: Tiếp cận theo giác độ phát triển thì trẻ em là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời của một người, từ lúc sinh ra đến khi chết. Trẻ em và người lớn là những giai đoạn phát triển khác nhau của đời người. Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại. Trẻ em vận động và phát triển theo qui luật riêng của mình.
Tâm lý học lứa tuổi lại xác định những giai đoạn khác nhau trong lứa tuổi trẻ em như: tuổi sơ sinh, tuổi hài nhi, tuổi mẫu giáo nhỏ, tuổi mẫu giáo lớn, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi thanh niên mới lớn. Trẻ em lớn lên, xã hội hóa trong những môi trường xã hội văn hóa cụ thể: văn hóa gia đình, văn hóa nhà trường, văn hóa địa bàn dân cư (làng, xã, phố phường); khiến không chỉ mỗi thời đại có trẻ em riêng của nó mà hơn thế, trong cùng một thời đại, mỗi vùng văn hóa, mỗi môi trường văn hóa, có trẻ em mang tính cách riêng của nó. Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc thù do chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, dễ tổn thương, dễ thay đổi, dễ thích nghi, dễ uốn nắn, dễ tự ái, tự ti, hiếu thắng, thiếu kiên nhẫn. Xu hướng muốn tự khẳng định, được đánh giá, được tôn trọng, nhiều hoài bão và nhìn chung còn thiếu thực tế, thiếu kinh nghiệm.
Độ tuổi trẻ em Trẻ em trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Theo đó, những trẻ em từ 0-15 tuổi sẽ là đối tượng nghiên cứu trong đề tài này. Ngoài ra, đối với mỗi lĩnh vực cụ thể lại có những độ tuổi phù hợp, chẳng hạn đối với lĩnh vực giáo dục nhóm tuổi được xác định từ 5 -15 tuổi vì Luật Giáo dục Việt 7 Nam quy định tuổi trẻ em cấp tiểu học và trung học cơ sở là từ 6-15 và chính phủ cũng có chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; nhóm tuổi đối với các chỉ tiêu về y tế được xác định từ 0-4 tuổi nhằm tìm ra tỷ lệ trẻ nhỏ không được đến cơ sở y tế; nhóm 6-15 tuổi đối với lĩnh vực lao động trẻ em nhằm phát hiện tình trạng trẻ phải lao động sớm ảnh hưởng đến học tập và phát triển. Các khái niệm về nghèo Nghèo là một khái niệm có thể được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau.
Vì vậy có rất nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau như thế nào là nghèo. (Rowntree 1910, trích bởi Nguyễn Trọng Hoài, 2010), được xem là người đầu tiên đi tìm thước đo nghèo đói, cho rằng nghèo đói là tình trạng thiếu một lượng tiền để “có được những thứ cần thiết cho việc duy trì thể chất thuần túy”. (Wilson, 1987, trích bởi Lương Hồng Quang, 2002), người nghèo là người không có trình độ, kỹ năng, luôn chịu sự tách biệt về xã hội, không có khả năng tiếp cận hoặc không có được mối liên hệ với các cá nhân khác, với những thể chế đem lại cho họ nguồn lợi kinh tế và các vị thế xã hội. Cụ thể hơn, tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Tại Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan, tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Đây cũng là định nghĩa về nghèo đói được các nước trong khu vực thống nhất và cũng được sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Theo Ngân hàng thế giới thì nghèo đói là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng; người nghèo dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ; bị gạt ra bên lề xã hội và không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế của Nhà nước. 8 Trong một nghiên cứu về nghèo đói thì khái niệm nghèo đói tựu chung thể hiện ở ba khía cạnh: Thứ nhất là có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của công đồng dân cư; Thứ hai là không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; Thứ ba là thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng (Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2005).
Mặc dù không có một định nghĩa duy nhất về nghèo nhưng nhìn chung có thể hiểu nghèo là tình trạng một bộ phận người dân không có được những điều kiện cần thiết để đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần ở mức tối thiếu (hay còn gọi là ngưỡng nghèo). Nghèo tuyệt đối Nghèo tuyệt đối là khái niệm dùng để chỉ những cá nhân (hay hộ gia đình) có mức thu nhập (hay chi tiêu) thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu còn được gọi là ngưỡng nghèo, được quy định bởi một quốc gia, một tổ chức trong khoảng thời gian nhất định. Nghèo tương đối Nghèo tương đối là một khái niệm dùng để chỉ ra những cá nhân (hay hộ gia đình) có mức thu nhập thấp hơn mức thu nhập trung bình của các thành viên khác trong xã hội. Tại EU, nghèo tương đối là những người có mức thu nhập thấp hơn 60% mức thu nhập quốc gia bình quân đầu người; tại Mỹ là những người có mức thu nhập thấp hơn 50% mức thu nhập quốc gia bình quân đầu người.
Khái niệm nghèo tương đối không chỉ đề cập đến thu nhập thấp mà còn thể hiện nhiều nội dung khác như: thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong lúc khó khăn, dễ bị tổn thương hay ít được tham gia vào quá trình ra quyết định. Một số phƣơng pháp xác định nghèo đói 2. Phương pháp xác định nghèo đói theo chuẩn quốc tế (trích bởi Lê Văn Thành và công sự, 2006) Theo Ngân hàng Thế giới, đói nghèo được tiếp cận theo hai mức: nghèo về lương thực phẩm và nghèo chung dựa trên chuẩn nghèo hay còn gọi là đường nghèo khổ. Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo.
Những người hoặc hộ có thu 9 nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được đề ra trong từng giai đoạn được coi là người nghèo hay hộ nghèo. Các nước thường sử dụng hai chuẩn nghèo: chuẩn thấp và chuẩn cao. - Chuẩn nghèo thấp được dùng để xác định những đối tượng nghèo nhất nhằm tập trung các nguồn lực của quốc gia giúp họ thoát nghèo. Chuẩn nghèo thấp được xác định bằng trị giá của một rổ hàng lương thực phẩm thiết yếu đảm bảo khẩu phần ăn duy trì nhiệt lượng tiêu dùng 1 người 1 ngày là 2100 Kcal.
- Chuẩn nghèo cao dùng làm mục tiêu phấn đấu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, để so sánh quốc tế và được xác định chuẩn nghèo thấp cộng với mức chi tối thiểu các mặt hàng phi lương thực phẩm gồm nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập, văn hóa, giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc. Tiêu chuẩn nghèo đói của World Bank Mức thu nhập tối thiểu Khu vực (USD/ngƣời/ngày) Các nước đang phát triển 1 USD hoặc 360 USD/năm Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 Nguồn: Đinh Phi Hổ, 2008 Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu của nước mình dựa vào điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia và được nâng dần lên ở từng giai đoạn phát triển cho phù hợp. Phương pháp xác định nghèo đói của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia Ở Việt Nam, việc xác định hộ nghèo căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ở từng giai đoạn. Ngoài ra, mỗi tỉnh, thành phố, tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế có thể xây dựng chuẩn nghèo khác nhau.
Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 5 lần điều chỉnh nâng chuẩn nghèo nhằm đáp ứng với yêu cầu xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, công bằng hơn và hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Chuẩn nghèo được xây dựng trên thu nhập và tùy thuộc vào khu vực nông thôn hay thành thị. Giai đoạn 2001 – 2005, hộ gia đình ở nông thôn được xem là hộ nghèo 10 khi thu nhập bình quân đầu người từ 100.000đ/tháng trở xuống, tương ứng ở thành thị là 150. Giai đoạn 2006 – 2010, hộ gia đình ở nông thôn được xem là hộ nghèo khi thu nhập bình quân đầu người từ 200.000đ/tháng trở xuống, tương ứng ở thành thị là 260.
Giai đoạn 2011 – 2015, hộ gia đình ở nông thôn được xem là hộ nghèo khi thu nhập bình quân đầu người từ 400.000đ/tháng trở xuống, tương ứng ở thành thị là 500.