CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Lo âu là một vấn đề đang được rất nhiều nhà nghiên cứu trên Thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng quan tâm nghiên cứu. Mặc dù mỗi nghiên cứu lại hướng tới những khía cạnh khác nhau của lo âu nhưng có thể khái quát thành hai hướng cơ bản sau: Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về lo âu trên bình diện lý luận. Trước hết, xét về nguồn gốc, nguyên nhân dẫn tới lo âu có rất nhiều quan điểm khác nhau.
Cụ thể: Vào năm 1872, Charles Darwin trong tác phẩm “Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật” (The Expression of Emotions in Man and Animals) đã nói rõ nguồn gốc, bản chất của sợ hãi và lo âu, mô tả như sau: “Con người trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên”. Từ đó, tâm lý học và tâm thần học bắt đầu nghiên cứu về lo âu và mô tả bản chất của nó [20] Có lẽ sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là học thuyết của Freud (1895) về chứng suy nhược thần kinh. Lần đầu tiên khái niệm lo âu được tiếp cận và được làm sáng tỏ về mặt bản chất. Từ suy nhược thần kinh Freud đã tách ra một hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu” (anxiety neurosis).
Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu theo Freud có liên quan đến những yếu tố sinh học cơ thể, quan điểm về bệnh học này đã ảnh hưởng trong phần lớn thời gian của thế kỷ (Dẫn theo Nguyễn Đại Hành, 2013) [5]. Với những biểu hiện, các dạng hành vi của lo âu, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra: Lo âu có thể phát sinh đột ngột, như trong hoảng sợ, hoặc dần dần trong nhiều phút, nhiều giờ, hoặc thậm chí cả ngày. Lo âu có thể kéo dài từ vài giây đến nhiều năm; thời gian dài hơn là đặc trưng của rối loạn lo âu. Năm 1621, Robert Burton đã viết cuốn sách “The Anatomy of Melancholy”, ông đã gợi ý rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cảm giác lo lắng và sợ hãi với các biểu hiện cơ thể như khó thở, mạch nhanh, đau tức vùng ngực, chóng mặt.
Richard Younge (1671) cho rằng lo âu chính là trạng thái phiền muộn khổ sở với mọi vấn đề trong cuộc sống, 12 lo âu là sự không bình thường về mặt tâm lý. Đầu thế kỷ 18, thuật ngữ lo âu được y học nhắc tới và được cho là rối loạn tâm thần. Sách giáo khoa về tâm thần học đầu tiên ở Anh quốc do tác giả William Battle (1703-1776) viết, ông đã phân biệt được sự khác nhau giữa “điên loạn” và “lo âu”. Khi nghiên cứu về các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở hệ thần kinh tự trị (Dẫn theo Nguyễn Đại Hành, 2013) [5].
Rối loạn lo âu xuất hiện dưới dạng một danh mục chẩn đoán trong ấn bản thứ ba của Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-III) vào năm 1980, khi chứng loạn thần kinh lo âu được chia thành GAD và rối loạn hoảng sợ. Năm 1994, DSM - IV được xuất bản có sự thay đổi trong các triệu chứng của rối loạn lo âu. Phiên bản DSM - V ra đời không có sự thay đổi gì so với phiên bản DSM - IV về rối loạn lo âu. Sự lo lắng được xuất hiện trong phiên bản thứ 10 của Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan (ICD -10) năm 1992.
Về những nghiên cứu xây dựng công cụ đánh giá lo âu, trước hết phải kể đến Thang tự đánh giá lo âu Zung (Zung Self-Rating Anxiety Scale, SAS). Đây là một trắc nghiệm tâm lý thường được sử dụng để đánh giá mức độ lo âu, do William W. Zung (1929 – 1992), Giáo sư Tâm thần học thuộc Duke University thiết kế vào năm 1971. SAS là một thiết bị đánh giá tự báo cáo gồm 20 mục được xây dựng để đo lường mức độ lo lắng, dựa trên việc chấm điểm theo 4 nhóm biểu hiện: các triệu chứng về nhận thức, tự trị, vận động và hệ thần kinh trung ương.
Đây là công cụ đánh giá được sử dụng nhiều trên thế giới, được dịch ra nhiều ngôn ngữ và được thích nghi ở nhiều nền văn hóa khác nhau trong đó có Việt Nam. Thang công cụ đánh giá trầm cảm, lo âu, stress (DASS – The Depression, Anxiety and Stress Scale) do Lovibond và cộng sự xây dựng từ năm 1995 với 42 câu hỏi (DASS 42). Thang là tổ hợp 3 thang tự đánh giá được thiết kế để đo mức độ nghiêm trọng của những dấu hiệu cốt lõi của u sầu, lo lắng và căng thẳng. Sau đó thang đánh giá được phát triển bởi các nhà khoa học thuộc Đại học New South Wales (University of New South Wales), Australia và rút gọn thành 21 câu với tên gọi DASS 21 (Depression Anxiety Stress Scale - 21 Items).
Năm 2013, thang DASS-21 được tác giả Trần Đức Thạch và cộng sự Việt hoá, cũng như chứng minh tính hiệu lực. 13 Thang đánh giá lo âu theo Hamilton (Hamilton Anxiety Rating Scale, HAM-A) được công bố phiên bản đầu tiên vào năm 1959 bởi Max Hamilton. Ông sử dụng phương pháp phổ biến để thiết kế thang đánh giá. Một loạt các triệu chứng có liên quan được thu thập và chia thành các nhóm.
Lúc khởi đầu có 12 nhóm triệu chứng, rồi tăng lên 13 nhóm với thang điểm 5. Hamilton tiến hành thử nghiệm và cải tiến, phát triển cấu trúc và thay đổi cách tính điểm để có được thang HAM-A như hiện tại [24]. Thang HAM-A là một trong những công cụ được sử dụng thường xuyên nhất để đo lường mức độ lo âu chung, thực hiện trên các rối loạn lo âu khác nhau. Thang đánh giá lo âu Hamilton gồm tất cả 21 câu hỏi khác nhau, nhưng chỉ tính điểm đánh giá 17 câu đầu tiên.
Thang đánh giá lo âu Hamilton là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi với mục đích chủ yếu là đo lường các mức độ lo âu khác nhau. Thang đánh giá lo âu này không chỉ đánh giá về tâm lý mà còn có thể nói lên phần nào phản ứng lo âu của cơ thể.[28] Vào năm 2006, Spitzer và các cộng sự đã công bố Thang đo Rối loạn lo âu tổng quát gồm 7 mục (GAD – 7), chúng được phát triển như một công cụ sàng lọc chứng rối loạn lo âu tổng quát. Thang đo được phát triển để giải quyết số lượng hạn chế của các biện pháp đo lường lo âu trong các vấn đề lâm sàng và để giải quyết vấn đề phổ biến về xếp hạng triệu chứng hiếm khi được sử dụng trong thực hành lâm sàng [30]. Thang đo bao gồm 7 câu hỏi, cần khoảng 1–2 phút để thực hiện và nhạy cảm với những thay đổi liên quan đến điều trị ở người lớn mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa.
GAD-7 đã được phổ biến thành công trong các phòng khám tâm thần và chăm sóc sức khỏe cho người lớn và đã được đánh giá một cách có hệ thống trong các mẫu của Hoa Kỳ và quốc tế (Jong- Geun Seo & Sung-Pa Park, 2015; Qiu-Yue Zhong, Bizu Gelaye, Alan M. Zaslavsky, 2015; Xin Tong, Dongmei An, 2016). Ngoài ra, còn có một số công cụ được thiết kế để dụng để sàng lọc các rối loạn lo âu ở trẻ em bao gồm rối loạn lo âu tổng quát, rối loạn lo âu chia ly, rối loạn hoảng sợ và ám ảnh xã hội như SCARED (Screen for Child Anxiety Related Disorders). Công cụ này cần khoảng 10 phút để quản lý, bao gồm 41 mục và đánh giá các triệu chứng của (1) rối loạn hoảng sợ (hoặc các triệu chứng cơ thể); (2) triệu chứng rối loạn lo âu lan tỏa; (3) triệu chứng rối loạn lo âu xã hội; (4) các triệu chứng lo âu bị chia ly và (5) trốn học.
Hay là Thang đo lo âu đa chiều dành cho trẻ em (MASC) là một công cụ tự báo cáo đã được xác thực ở thanh niên 8–19 tuổi và đánh giá các triệu chứng lo âu so với các tiêu chuẩn tuổi tác. MASC bao gồm 50 câu hỏi và được áp dụng cho cả bệnh nhi và cha 14 mẹ hoặc người chăm sóc của trẻ. 8 Công cụ này bao gồm các thang đo liên quan đến lo lắng/ám ảnh chia ly, GAD, lo lắng xã hội, ám ảnh và cưỡng chế và đánh giá các triệu chứng thể chất/tránh tác hại [29] Ở Việt Nam, các công cụ đánh giá lo âu còn khá ít ỏi, các nhà nghiên cứu chủ yếu thích nghi các công cụ của nước ngoài như: Thích nghi thang đo Lo âu thi cử TAS và TAI trên mẫu sinh viên đại học (Renlai Zhou, Nguyễn Thị Nhân Ái, Quách Thị Phương Thảo, 2019). Kết quả cho thấy, thang đo này có khả năng ứng dụng cao trong công tác sàng lọc và đánh giá.
Phân tích độ hiệu lực đồng thời cho thấy, trạng thái lo âu, trầm cảm và lo âu thi cử có tương quan thuận với nhau, khách thể có mức lo âu thi cử cao có khả năng dẫn đến trạng thái lo âu lâm sàng. Năm 2001, Nguyễn Khắc Viện đã đưa ra khái niệm của lo âu trong cuốn sách được xem là từ điển tâm lý học đầu tiên ở Việt Nam, với "Lo âu là việc chờ đón và suy nghĩ về một điều gì đó mà không chắc có thể đối phó được. Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi [35] Để đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu Tâm lý học, năm 2008 nhà xuất bản Từ điển bách khoa cho ra đời cuốn “Từ điển tâm lý học” do Vũ Dũng chủ biên.
Trong cuốn sách tác giả có nhắc đến Lo âu là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể [2] Năm 2021, dịch giả Khiết Lam đã cho xuất bản quyển sách Lo âu xã hội của Tiến sĩ David Shanley.