ĐẶT VẤN ĐỀ Ở bệnh nhân suy thận mạn tính (STMT) có lọc máu chu kỳ (LMCK), thường gặp những biểu hiện như : tụt huyết áp, nhức đầu, buồn nôn, loạn nhịp tim… và các biến chứng lâu dài như: tăng huyết áp không kiểm soát được, biến chứng tim mạch (suy tim, thiếu máu cơ tim… ), hô hấp (phù phổi, tràn dịch màng phổi), suy dinh dưỡng, thiếu máu, loãng xương. Trong đó biến chứng suy dinh dưỡng (SDD) là phổ biến hơn cả. Theo một số nghiên cứu tại Pháp và Mỹ cho thấy tỷ lệ bệnh nhân LMCK bị SDD chiếm từ 20% - 50% [14], [16], [32]. Tình trạng dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ với sự tiến triển của bệnh STMT ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ[54], [68], [73], [95].
Theo nghiên cứu của Lowie & Lew 1990 [72] trên 12.000 bệnh nhân tại Mỹ cho thấy có mối tương quan nghịch giữa nồng độ albumin (Alb) huyết thanh với nguy cơ tử vong của bệnh nhân. Nguy cơ tử vong tăng gấp 20 lần ở nhóm bệnh nhân có nồng độ albumin huyết thanh <2,5g/dL và tăng gấp hai lần ở nhóm bệnh nhân có nồng độ albumin huyết thanh từ 3,5g/dL đến 4,0g/dL, so với nhóm bệnh nhân có nồng độ albumin huyết thanh từ 4,0g/dL đến 4,5g/dL [14]. Trong một nghiên cứu khác của Owen và cộng sự năm 1993 [83], cho thấy có sự liên quan ý nghĩa của các chỉ số dinh dưỡng khác với nguy cơ tử vong: urê máu thấp là biểu hiện của sự thiếu hụt protein (Pr) và năng lượng trong khẩu phần ăn; creatinin huyết thanh thấp là biểu hiện của tình trạng giảm khối cơ của toàn cơ thể. Năm 2002 Mitch WE công bố kết quả nghiên cứu tại Mỹ: có tới 50% số bệnh nhân LMCK có biểu hiện của SDD[77].
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng là thiếu Protein - năng lượng trong khẩu phần ăn, thiếu các vi chất dinh dưỡng, nhiễm trùng, ít vận động thể lực, nhiều bệnh lý khác phối hợp như thiếu máu, bệnh tim mạch, bệnh chuyển hóa[26], [28], [29], [33], [40]. Hiện tượng mất các chất dinh dưỡng trong quá trình lọc máu, tình trạng tăng dị hóa và lọc máu cũng là yếu tố góp phần gây SDD Protein - năng lượng[36] [48], [50]. Ở Việt Nam, có khoảng 72.000 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần điều trị bằng lọc máu. Hiện tại, chỉ mới 7% bệnh nhân (xấp xỉ 6.000 bệnh nhân) được 12 điều trị lọc máu tại các trung tâm thận lọc máu trên cả nước[7], [8].
Phần lớn bệnh nhân đều được chẩn đoán ở giai đoạn muộn và bắt đầu lọc máu với tình trạng dinh dưỡng kém do hội chứng urê máu cao, kèm theo một chế độ ăn kiêng đạm kéo dài trước đó[7], [8], [12]. Đa số bệnh nhân đang LMCK có hoàn cảnh kinh tế khó khăn cùng với sự hiểu biết về dinh dưỡng còn hạn chế ít chú ý đến chế độ dinh dưỡng phù hợp, do vậy ảnh hưởng không tốt đến tình trạng dinh dưỡng và khả năng hồi phục sức khỏe của bệnh nhân. Tại bệnh viện Việt Đức hàng tháng, có khoảng hơn 150 bệnh nhân STMT – LMCK. Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân, từ đó đề ra những biện pháp can thiệp phù hợp cho bệnh nhân là rất cần thiết.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Tình trạng dinh dƣỡng, một số yếu tố liên quan của bệnh nhân suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức - Năm 2012” 13 MỤC TIÊU CHUNG Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2012 MỤC TIÊU CỤ THỂ 1- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đến lọc máu chu kỳ tại bệnh viện Việt Đức năm 2012. 2- Xác định một số yếu tố liên quan tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân suy thận mạn tính có lọc máu chu kỳ. 14 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Vai trò của dinh dƣỡng đối với sức khỏe 1. Vai trò của dinh dƣỡng đối với sự hình thành, tăng trƣởng và phát triển Sự phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có bốn yếu tố chính là di truyền, nội tiết, thần kinh thực vật và dinh dưỡng.
Ba yếu tố đầu bảo đảm tiềm năng phát triển nhất định, còn yếu tố dinh dưỡng cung cấp các chất liệu cần thiết để phát huy tiềm năng di truyền[3],[5]. Vai trò của dinh dƣỡng đối với hệ miễn dịch 1.Mối quan hệ giữa dinh dưỡng và bệnh nhiễm khuẩn Mỗi quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng của một cá thể với các bệnh nhiễm khuẩn được diễn ra theo hai chiều (sơ đồ 1). Thiếu dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể làm cơ thể dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Ngược lại, các bệnh nhiễm khuẩn làm suy sụp thêm tình trạng suy dinh dưỡng sẵn có.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của tình trạng dinh dưỡng đối với tiến triển các bệnh nhiễm khuẩn không giống nhau, ví dụ như bệnh lao ảnh hưởng này rất lớn, còn bệnh uấn ván lại không đáng kể[3], [4]. Cơ thể thiếu dinh dưỡng Kém ngon miệng Cân nặng giảm Chất dinh dưỡng hao hụt Tăng trưởng kém Hấ p thu kém Giả m miễ n dị ch Tăng khả năng mắc bệnh Tăng mức độ nặng của bệnh Kéo dài thời gian bị bệnh Sơ đồ 1. Mỗi quan hệ giữa dinh dƣỡng và bệnh nhiễm khuẩn 15 1. Ảnh hưởng của thiếu dinh dưỡng protein – năng lượng đối với hệ miễn dịch Thiếu protein năng lượng hay gặp nhất ở bệnh nhân suy thận có lọc máu chu kỳ do ăn giảm lượng đạm trước đó bị suy thận mạn, trẻ em trước tuổi đi học, bà mẹ có thai làm ảnh hưởng tới thai nhi, các em gái ở tuổi vị thành niên.
Thiếu protein và năng lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ miễn dịch, đặc biệt là miễn dịch qua trung gian tế bào, các chức phận diệt khuẩn của bạch cầu đa nhân trung tính , bổ thể và bài xuất các globulin miễn dịch nhóm IgA[3], [4]. Vai trò của một số vitamin đối với hệ miễn dịch[2], [7],[11] Vitamin A: còn có tên gọi là "vitamin chống nhiễm khuẩn" có vai trò rõ rệt cả với miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào như: tham gia chức năng cảm nhận thị giác, duy trì cấu trúc bình thường của da và niêm mạc, biệt hóa tế bào, đáp ứng miễn dịch, tạo máu, tăng trưởng, sinh sản. Vitamin C: vitamin C tham gia quá trình hình thành chất tạo keo (collagen), là chất cần để gắn kết tế bào và làm liền vết thương, làm vững bền thành mạch. Vitamin C giúp tăng cường hấp thu sắt không Hem, tham gia quá trình chuyển hóa năng lượng, tham gia quá trình tạo kháng thể và làm tăng sức đề kháng của cơ thể với bệnh nhiễm trùng.
Vitamin C là chất chống oxy hóa, làm ngăn cản sự hình thành các gốc tự do, làm chậm lại quá trình lão hóa và phòng các bệnh tim mạch và ung thư. Thiếu vitamin C thường gây chảy máu chân răng, chậm liền vết thương, xuất huyết dưới da. Nếu dùng vitamin C liều cao và kéo dài có thể gây tiêu chảy, buồn nôn, sỏi oxalat thận và có thể gây thiếu vitamin khi dừng đột ngột. Các vitamin nhóm B: trong các vitamin nhóm B, vai trò các folat và pyridoxin đáng chú ý hơn cả.
Folat cần cho quá trình tổng hợp ADN và chuyển hóa protein.Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp các tế bào tham gia vào các cơ chế miễn dịch. Tương tự như thiếu sắt, miễn dịch dịch thể ít bị ảnh hưởng hơn miễn dịch qua trung gian tế bào. Thực nghiệm trên động vật thiếu acid folic cho thấy tuyến ức bị teo đét và số lượng các tế bào cũng giảm.Vitamin B6 tham gia vào quá trình chuyển hóa protein và glucid. Xúc tác quá trình chuyển hóa từ tryptophan thành vitamin PP Thiếu pyridoxin làm chậm trễ các chức phận miễn dịch, cả dịch thể lẫn trung gian tế bào.
Vai trò của một số khoáng chất đối với hệ miễn dịch[5] Rất nhiều chất khoáng và vi khoáng tham gia vào chức phận miễn, trong đó có vai trò của sắt trong bệnh suy thận mạn được nghiên cứa nhiều. Sắt: Thiếu máu là một dạng thiếu dinh dưỡng thường gặp nhất ở người.Thiếu sắt gây nên tình trạng thiếu máu nhược sắc, hồng cầu nhỏ. Tùy mức độ thiếu máu mà bệnh nhân có biểu hiện khác nhau, từ mệt mỏi, hay cáu giận, hay quên, giảm khả năng lao động Vai trò sắt: Tham gia tạo Hem (Hemoglobin, myoglobin) 1. Nhu cầu dinh dƣỡng cho ngƣời bình thƣờng và các bệnh mãn tính nói chung 1.
Nhu cầu dinh dƣỡng cho ngƣời bình thƣờng 1. Nhu cầu dinh dưỡng [6] Nhu cầu cơ bản: là nhu cầu cần thiết để đề phòng các biểu hiện lâm sàng do thiếu dinh dưỡng. Khi đạt nhu cầu này cơ thể có thể tăng trưởng và phát triển bình thường nhưng dự trữ các chất dinh dưỡng trong cơ thể không đầy đủ nên rất nhạy cảm với các vấn đề gây ra do thiếu dinh dưỡng trong thời gian ngắn. Nhu cầu dự trữ thích hợp: Là lượng các chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì dự trữ trong các mô nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu mà không ảnh hưởng đến chức phận.
Dự trữ đó là cần thiết nhưng chính xác là bao nhiêu thì người ta vẫn chưa biết. Nhu cầu an toàn (đồng nghĩa với nhu cầu đề nghị): Là nhu cầu duy trì được sức khoẻ và có dự trữ dinh dưỡng thích hợp ở hầu hết các đối tượng khoẻ mạnh. Ở một quần thể bất kỳ này có rất ít nguy cơ bị thiếu dinh dưỡng. Nhu cầu này đáp ứng cho cơ thể dự trữ thích hợp.
Năng lượng[2] Theo tổ chức y tế thế giới (1985 ) có thể tính nhu cầu năng lượng cả ngày từ nhu cầu chuyển hoá cơ bản theo các hệ số sau: 17 Bảng 1.Công thức tính chuyển hoá cơ bản dựa theo cân nặng[6], [5]. Nhóm tuổi Chuyển hoá cơ bản (Năm) (kcal/ngày) Nam Nữ 18 – 30 15,3xW + 67 14,7xW + 496 30 – 60 11,6xW + 879 8,7xW + 829 Trên 60 13,5xW + 487 10,5xW+ 596 W: Trọng lượng cơ thể, đơn vị là: kg Bảng 2. Hệ số nhu cầu năng lƣợng cả ngày của ngƣời trƣởng thành[2] Năm Nam Nữ Lao động vừa 1,78 1,61 Lao động nặng 2,10 1,82 Ví dụ: Một người cân nặng 50 kg, tuổi 30 là nam giới, lao động vừa, nhu cầu năng lượng cả ngày như sau: (15,3 x 50 + 679) x 1,78 = 2570 kcal. Để dễ nhớ có thể tính nhu cầu năng lượng trung bình như sau: - Người lớn: 50 kcal/kg trọng lượng cơ thể/ngày - Trẻ em: 100 kcal/kg trọng lượng cơ thể/ngày 18 Duy trì cân nặng “nên có”.