CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa, phân loại, tiêu chuẩn chẩn đoán a. Định nghĩa TCYTTG định nghĩa: ĐTĐ là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có sự liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin [11].
Phân loại ĐTĐ được phân loại thành 2 tuýp chính là tuýp I và tuýp II, cụ thể: - ĐTĐ tuýp I: được định nghĩa là hậu quả của quá trình hủy hoại các tế bào beta của đảo tụy. Người bệnh phải dùng insulin ngoại lai để chuyển hóa, ngăn ngừa tình trạng nhiễm toan ceton có thể gây hôn mê và tử vong - ĐTĐ tuýp II: ĐTĐ không phụ thuộc insulin, là thể bệnh chiếm ưu thế trong ĐTĐ. Bệnh thường tồn tại trong thời gian dài mà không có triệu chứng lâm sàng Ngoài ra, ĐTĐ cũng bao gồm đái tháo đường thai kỳ là rối loạn dung nạp glucose được chẩn đoán lần đầu tiên khi có thai và một số thể đặc biệt khác [7],[28]. Tiêu chuẩn chẩn đoán Theo TCYTTG (2006) và Khuyến cáo của Hội ĐTĐ Hoa Kỳ (2014), chẩn đoán ĐTĐ khi có một trong các tiêu chuẩn sau: - Đường huyết lúc đói ≥ 7mmol/l (kết quả 2 lần ở 2 thời điểm khác nhau).
Đói được định nghĩa là không ăn gì có năng lượng trong 8 giờ - Đường huyết bất kỳ trong ngày ≥ 11,1 mmol/l kết hợp với triệu chứng lâm sàng như khát, tiểu nhiều, sụt cân - Đường huyết sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 11,1 mmol/l - HbA1C > 6,5% [28],[50]. Tuy nhiên, tiêu chuẩn HbA1c ≥ 6,5% phải được thực hiện ở labo chuẩn. Do vậy, hiện nay, Hiệp hội ĐTĐ Việt Nam chưa đưa tiêu chuẩn HbA1C vào làm tiêu chuẩn chẩn đoán mà chỉ là để theo dõi và tiên lượng quá trình điều trị bệnh [6].Trong điều kiện thực 5 tế tại Việt Nam, phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán ĐTĐ là định lượng glucose huyết tương trong lúc đói 2 lần ≥ 126mg/dL (hay 7mmol/L) [7]. Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của TCYTTG: Người bệnh nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương 75g glucose, hòa tan trong 250-300ml nước uống trong 5 phút, trong 3 ngày trước đó người bệnh ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbonhydrat mỗi ngày [7].
Điều trị đái tháo đường tuýp II a. Mục đích điều trị ĐTĐ tuýp II Mục đích điều trị của ĐTĐ tuýp II là duy trì được lượng glucose máu khi đói và glucose máu sau ăn gần như mức độ sinh lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng nhằm giảm các biến chứng có liên quan, giảm tỷ lệ tử vong do ĐTĐ; đồng thời giảm cân nặng với người thừa cân, béo phì hoặc duy trì cân nặng hợp lý [7]. Mục tiêu điều trị cần đạt Bảng 1.1: Mục tiêu điều trị cần đạt ở người bệnh đái tháo đường trưởng thành, không có thai Chỉ số Mục tiêu Glucose huyết tương mao 4,4 – 7,2 mmol/L mạch lúc đói, trước ăn 80-130mg/dL Đỉnh Glucose huyết tương < 180mg/dL mao mạch sau ăn 1-2 giờ 10,0mmol/L HbA1c < 7% Huyết áp Tâm thu < 140mmHg và Tâm trương < 90 mmHg Lipid máu LDL Cholesterol < 100mg/dL (2,6 mmol/L) Triglycerid < 150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL Cholesterol > 40 mg/dL (1mmol/L) ở nam và > 50 mg/dL (1,3 mmol/L ) ở nữ Đối với các cơ sở y tế không thực hiện xét nghiệm HbA1c, đánh giá theo mức glucose huyết tương trung bình bởi hai giá trị này liên quan đến nhau.Theo hướng dẫn của 6 Bộ Y tế, đường huyết cần được kiểm tra định kỳ hàng tháng.Chỉ số HbA1C nên được xét nghiệm sau 3-6 tháng. Hiện tại Việt Nam chưa được công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế về đo HbA1C.
Bên cạnh đó, việc đo glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm pháp cần tuân thủ đúng theo hướng dẫn TCYTTG [7]. Nguyên tắc điều trị Thuốc phải kết hợp chế độ ăn và luyện tập. Với những người bệnh mới chẩn đoán ĐTĐ mà mức glucose máu thấp, chưa có biến chứng, thay đổi lối sống có theo dõi sát và đánh giá là phương pháp điều trị được áp dụng mà chưa cần dùng thuốc 3-6 tháng. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới ĐTĐ là bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới với tỷ lệ mắc cao. Tỷ lệ ĐTĐ tuýp II ở người trưởng thành ở Li băng (15,8%) [32] Bahrain (25,5%), United Arab Emirates (23,3%) và Saudi Arabia (23,7%) [46]. Năm 2000, số người mắc ĐTĐ tại một số nước trên thế giới như Ấn Độ là 31,7 triệu người, Hoa Kỳ là 17,7 triệu người, Trung Quốc là 20,8 triệu người, Nhật là 6,8 triệu người và Indonesia là 8,4 triệu người [49],[52]. Theo ấn phẩm mới nhất năm 2017 của Liên đoàn ĐTĐ Thế giới công bố, ước tính có 425 triệu người mắc ĐTĐ (cứ 11 người từ 20-79 tuổi thì có 1 người mắc ĐTĐ) [18].
Bên cạnh đó, tỷ lệ mắc ĐTĐ tuýp II ngày càng tăng trên toàn thế giới. Theo dự kiến con số mắc ĐTĐ sẽ tăng lên gấp đôi hoặc hơn gấp đôi vào năm 2030 tại nhiều nước so với số liệu năm 2000. Cụ thể, dự kiến số người mắc ĐTĐ năm 2030 ở Ấn Độ là 79,4 triệu người, Hoa Kỳ 30,3 triệu người, Trung Quốc 42,3 triệu người, Indonesia 21,3 triệu người và Nhật Bản 8,9 triệu người [49],[52]. Tại Li băng, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ tuýp II có xu hướng gia tăng đáng báo động theo thời gian, tăng từ 11,6% năm 1999 lên 15,8% trong năm 2004 [35],[48].
Liên đoàn ĐTĐ quốc tế dự báo tỷ lệ hiện mắc của ĐTĐ tuýp II ở người trưởng thành ở Li Băng năm 2020 là 20,4% [31]. Dự báo đến năm 2045, tỷ lệ ĐTĐ tại châu Phi tăng tới 163%, tại Trung Á và Bắc Phi tăng 112% [18]. Tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc càng cao. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cũng thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát triển, theo từng dân tộc, từng vùng địa lí khác nhau [11],[50].
Tình hình mắc đái tháo đường tại Việt Nam Việt Nam là một nước đang phát triển và tỷ lệ ĐTĐ tại Việt Nam cũng gia tăng nhanh chóng. Bệnh hiện nay không chỉ có ở các thành phố lớn mà ở khắp các miền của cả nước. Theo Wild và cộng sự, năm 2000, tại Việt Nam có 3,3 triệu người mắc ĐTĐ [49]. Năm 2001, theo kết quả điều tra của Tạ Văn Bình và cộng sự, tỷ lệ ĐTĐ ở các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh là 4,9%.
Năm 2002, lần đầu tiên một cuộc điều tra trên qui mô toàn quốc được Bệnh viện Nội tiết tiến hành, kết quả cho thấy tỷ lệ ĐTĐ trên toàn quốc là 2,7%, ở khu vực thành phố là 4,4%, ở miền núi và trung du là 2,1 % và ở đồng bằng là 2,7%. Kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương tại 6 vùng sinh thái năm 2012 chỉ ra tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 5,7%, trong đó Tây Nam Bộ chiếm tỷ lệ cao nhất với 7,2% , Tây Nguyên chiếm tỷ lệ thấp nhất với 3,8%. Như vậy trong khoảng 10 năm tỷ lệ ĐTĐ nước ta tăng hơn gấp đôi. Tỷ lệ nữ mắc ĐTĐ nhiều hơn nam giới gần 5%.
Người trên 45 tuổi, có vòng eo lớn và gia đình có người mắc ĐTĐ có nguy cơ cao nhất từ 2 đến 5 lần [2]. Theo báo cáo mới nhất năm 2017 của Liên đoàn ĐTĐ thế giới công bố, Việt Nam có khoảng 3,535 triệu người trưởng thành mắc ĐTĐ, chiếm 5,5% [38]. Đáng chú ý là 60% số người mắc ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện và khi phát hiện đã mắc các biến chứng nghiêm trọng. Các biến chứng chủ yếu là thận và mắt.
ĐTĐ cũng gây ra tàn tật và tử vong. Ước tính năm 2015 có khoảng 53458 người tử vong do ĐTĐ tại Việt Nam. Con số tiền ĐTĐ có thể cao hơn tỷ lệ ĐTĐ khoảng 3 lần tại Việt Nam [53]. So sánh giữa số liệu thống kê năm 2002 và 2012, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nước ta tăng 211% [1].
Với tỷ lệ người bệnh tăng từ 8% đến 10%/năm, Việt Nam trở thành nước có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới [51]. Liên đoàn ĐTĐ thế giới ước tính đến năm 2040, Việt Nam có hơn 6 triệu người trưởng thành mắc ĐTĐ, tăng gần gấp đôi so với hiện nay (3,535 triệu người năm 2017) [38]. Tình trạng dinh dưỡng 1. Khái niệm TTDD được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, chức năng và sinh hóa phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
TTDD của các cá thể là kết quả của quá trình ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. 8 Đánh giá TTDD là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về TTDD và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó [26]. Việc đánh giá này được thực hiện bởi các cán bộ được đào tạo về dinh dưỡng như cán Bộ Y tế, tiết chế, điều dưỡng. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá TTDD như: - Nhân trắc học: có mục đích xác định/đo lường các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và TTDD.
Phương pháp này ưu điểm là đơn giản, an toàn, có thể điều tra mẫu lớn; trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển; có thể khai thác dấu hiệu về TTDD trong quá khứ và xác định mức độ suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, một số nhược điểm có thể kể đến là không đánh giá được TTDD thay đổi trong giai đoạn ngắn và không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu. Mặc dù vậy, đây là phương pháp phổ biến và cơ bản trong đánh giá TTDD. Các số đo thường dùng là trọng lượng cơ thể, chiều cao, khối mỡ (BMI, VB)…VB là chỉ số dự báo chính xác về khối mỡ bụng khi dùng một mình hoặc kết hợp với BMI.
Béo bụng là chỉ số dự báo nguy cơ “độc lập” cho những người có BMI ngưỡng bình thường. Đối với người già và người Châu Á thì chỉ số VB tốt hơn BMI. BMI là chỉ số không thể thiếu trong các sàng lọc dinh dưỡng. Người có chỉ số BMI cao có nguy cơ mắc ĐTĐ cao.
Chỉ số này được tính bằng cân nặng chia bình phương chiều cao (kg/m2). Theo tiêu chuẩn phân loại của TCYTTG, khi BMI dưới 18,5 là gầy; từ 18,5 đến dưới 25 là bình thường và từ 25 đến dưới 30 là thừa cân, trên 30 là béo phì [26].