Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tai nạn thương tích và vai trò của chăm sóc trước viện Tai nạn thương tích Tai nạn thương tích (TNTT) là một sự kiện xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn, gây ra bởi tác nhân bên ngoài làm tổn hại đến cơ thể ai đó, khiến một hoặc nhiều bộ phận rối loạn cấu trúc hoặc chức năng, kể cả khiến nạn nhân bị sang chấn tâm lý. Tác nhân gây TNTT có thể là tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc chấn thương tâm lý, với mức độ vượt quá khả năng chịu đựng của nạn nhân (2, 16-18). TNTT thường được phân loại theo chủ đích và theo nguyên nhân bên ngoài: Dựa theo loại hình thương tích: Chia thành hai nhóm gồm TNTT không chủ định và TNTT có chủ định.
TNTT không chủ định nguyên nhân thường không rõ ràng, khó đoán trước được, bao gồm các trường hợp va chạm giao thông, bỏng, ngã, ngộ độc, chết đuối. TNTT có chủ định là hành vi cố ý gây bạo lực cho chính bản thân hoặc người khác, có nguyên nhân rõ ràng và có thể phòng ngừa được như bạo lực, tự tử… (18, 19). Dựa theo nguyên nhân gây TNTT: Bao gồm 12 nguyên nhân chính gây TNTT: TNGT: Sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người khi đang tham gia giao thông (có ít nhất 1 phương tiện giao thông trong vụ tai nạn), do chủ quan, gặp phải các sự cố đột xuất hoặc dovi phạm luật An toàn giao thông, gây nên thiệt hại về sức khoẻ, thậm chí tử vong cho một hoặc nhiều người. TNGT ở đây tính tất cả các trường hợp xảy ra trên đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và hàng không.
Tai nạn lao động: Xảy ra trong quá trình lao động (kể cả khi thu dọn sau làm việc) do các yếu tố nguy hiểm độc hại trong môi trường lao động gây nên tổn thương đến một hay nhiều bộ phận trên cơ thể người lao động. TNLĐ thường xảy ra trong một số lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp. Động vật cắn, đốt, húc: Trường hợp người bị động vật tấn công, hay gặp nhất là chó, mèo… 6 Ngã: Tất cả các trường hợp bị ngã không nằm trong nhóm TNGT. Đuối nước: Trường hợp bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng, dầu…).
Bỏng: Tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da do nhiệt, điện, bức xạ hay hóa chất hay ma sát. Hóc dị vật, ngạt: Hóc dị vật xảy ra khi vật thể lạ rơi và mắc vào đường thở, bao gồm cả sặc thức ăn, gây nên khó thở hoặc không thể nói đc. Ngạt thở có thể gồm các trường hợp bị đe dọa đường thở do mắc kẹt trong môi trường oxy (loại trừ trường hợp TNTT có chủ đích) Ngộ độc: Hít, chạm, ăn hoặc tiêm vào cơ thể thuốc, hoá chất, khí độc, nọc độc với nồng độc hoặc liều lượng vượt quá giới hạn chịu đựng của cơ thể, gây tổn thương một hoặc nhiều cơ quan trong cơ thể, thậm chí có thể gây tử vong. Tự tử: Chấn thương do chính nạn nhân gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chính bản thân.
Bạo lực trong gia đình, xã hội: Hành động vũ phu gây ra bởi một hoặc nhiều người, sử dụng hoặc không sử dụng vũ khí tấn công người khác dẫn đến chấn thương, tổn thương tinh thần hoặc gây tử vong. Điện giật: Cơ thể bị tổn thương hoặc cản trợ chức năng do ảnh hưởng của dòng điện. Khác: Các trường hợp TNTT còn lại: sét đánh, thiên tai… (20). Chăm sóc trước viện Chăm sóc trước viện (CSTV) (prehospital emergency care) được hiểu là bất kỳ sự chăm sóc y tế ban đầu nào mà người bệnh nhận được ngay khi xảy ra tai nạn trước khi được đưa đến Khoa Cấp cứu của BV.
Dịch vụ y tế khẩn cấp này thường được thực hiện bởi y bác sĩ và các nhân viên y tế, trong nhiều trường hợp người xung quanh hiện trường có thể là người thực hiện sơ cấp cứu cho nạn nhân (8, 9, 19). Theo khái niệm cũ, CSTV bao gồm việc sơ cấp cứu của những người xung quanh và việc vận chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế điều trị. Tuy nhiên, theo định nghĩa mới, phạm vi đáp ứng CSTV được mở rộng hơn, bao gồm cả cán bộ y tế cộng đồng, y bác sĩ sơ cấp cứu và dược sĩ chịu trách nhiệm cung cấp thuốc và vật tư sơ cấp cứu (9). Phương thức vận chuyển có thể bằng phương tiện đường bộ (ô tô, xe máy…) hoặc 7 trên không (trực thăng) (16).
Theo WHO, người thực hiện CSTV được chia làm 3 cấp độ: (1) Người dân giúp đỡ tại hiện trường, thường là không chuyên; (2) Đơn vị đáp ứng Hồi sinh tim phổi cơ bản (Basic Life Support - BLS); (3) Đơn vị đáp ứng Hồi sinh tim phổi nâng cao (Advanced Life Support – ALS) (21). Theo hệ thống CSTV, sự phân bố tử vong do chấn thương nghiêm trọng bao gồm các trường hợp: Xảy ra ngay lập tức hoặc rất nhanh do chấn thương quá nặng. Hoặc, xảy ra trong trong vài giờ của sự kiện và thường là sau khi tiếp nhận điều trị. Hoăc, trì hoãn: Tử vong trong giai đoạn này thường xảy ra vài ngày hoặc vài tuần sau chấn thương ban đầu và là kết quả của nhiễm trùng, suy đa tạng hoặc các biến chứng muộn khác của chấn thương (8).
1: Sự phân bố các trường hợp tử vong do chấn thương Cụ thể, mô hình phân bố này được Trunkey mô tả lần đầu tiên vào năm 1983 (hình 1.1), chứng minh rằng hầu hết các trường hợp tử vong trong vòng 24 giờ đầu tiên và 80% các trường hợp tử vong ngay trong giờ đầu (Giờ Vàng). Nạn nhân hầu như tử vong đều liên quan đến đường hô hấp hoặc do mất quá nhiều máu. Việc người bệnh không được CSTV ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị. Ngược lại, nếu được sơ cấp cứu đúng cách, kịp thời, tỷ lệ sống có thể tăng 25% và có thể lớn hơn nếu vận 8 chuyển an toàn đến cơ sở y tế (22).
Bởi vậy, công tác CSTV được đáp ứng kịp thời là vô cùng quan trọng, làm tăng khả năng sống sót, giảm tỉ lệ mắc các bệnh kéo theo do thương tích, giảm tàn tật, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống sau TNTT (23). Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, khi thực hiện sơ cấp cứu cho nạn nhân bị TNTT, lưu ý quan trọng nhất là phải bảo vệ cột sống cổ cho nạn nhân bằng cách luôn giữ đầu và cột sống cổ thẳng trục với thân mình trong quá trình di chuyển nạn nhân. Sai lầm thường mắc phải khi sơ cứu cho BN TNTT là người giúp sơ cứu xốc ngược nạn nhân hoặc để nạn nhân ngồi lên xe máy và di chuyển trên đường làm tủy cổ bị đứt, có thể khiến BN hoặc chết ngay, hoặc bị liệt hô hấp, liệt tứ chi không thể hồi phục được. Vì vậy, tư thế vận chuyển nạn nhân bị TNTT ảnh hưởng rất lớn đến quá trình điều trị và phục hồi cho người bệnh.
Dưới đây tóm tắt các bước cơ bản trong sơ cứu TNTT (24): Hình 1. 2: Sơ đồ tóm tắt các bước cơ bản trong sơ cứu nạn nhân bị TNTT 1. Tình trạng TNTT trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình trạng TNTT trên thế giới TNTT hiện đang là vấn đề nổi cộm trên thế giới với con số đáng báo động – 5,8 triệu ca tử vong mỗi năm.
Con số này tương đương 10% số liệu thống kê tử vong toàn cầu và nhiều hơn tổng số người chết do sốt rét, lao và HIV/AIDS cộng lại đến 32%. Chỉ tính riêng số nạn nhân trong các vụ giết người trung bình mỗi năm đã cao hơn gấp 3 lần số người thiệt mạng trong chiến tranh (1). 3: Các nguyên nhân tử vong trên thế giới Năm 2012, TNGT và ngã lần lượt đứng thứ 9 và 21 trong số các nguyên nhân tử vong hàng đầu thì đến năm 2030, WHO dự đoán TNGT sẽ leo lên vị trí số 7 và ngã sẽ trở thành yếu tố gây tử vong thứ 17. Có đến 90% số người bị tước đi sinh mạng do TNTT đang sống tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (25, 26).
Một đánh giá tổng quan thu thập 93 bài báo về các hệ thống chấn thương tại 32 quốc gia (23 quốc gia thu nhập cao, 8 quốc gia thu nhập trung bình và 1 quốc gia thu nhập thấp) cũng cho kết quả tương tự (27). Số liệu tử vong do TNTT tại các nước phát 10 triển chỉ bằng 1/3 tại các nước nghèo (28). Thống kê Ủy ban Y tế và Phúc lợi Quốc gia Thụy Điển cũng nhấn mạnh nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở nhóm tuổi 15 – 44 ở cả hai giới là TNTT (16). Thống kê số ca tử vong toàn cầu, ba nguyên nhân hàng đầu gây TNTT là TNGT đường bộ (2,22% tổng số chết chung), ngã (1,24%) và tự tử (1,42%) (29).
Tương tự tại các khu vực có nền kinh tế kém phát triển, TNGT đứng đầu với 2,64% tổng số chết chung, tiếp đến là tự tử (1,48%) và ngã (1,33%) (28). Sau gần 2 thập kỷ kể từ vị trí thứ 14 vào năm 2000, TNGT đã trở thành mối đe dọa thứ 8 đối với dân số thế giới (30). Mỗi ngày TNGT lại tước đi mạng sống của gần 3,700 người tham gia giao thông và khiến hơn 15.000 người giảm tuổi thọ vì TNGT, kéo theo hàng chục triệu người bị thương và tàn tật mỗi năm (18, 31). “Báo cáo toàn cầu Tình hình An toàn giao thông đường bộ” của WHO vào tháng 12 năm 2018 nhấn mạnh rằng số nạn nhân tử vong do TNGT đã lên đến con số 1,35 triệu người – đồng thời vẫn không có bất cứ quốc gia thu nhập thấp nào giảm được số người chết vì TNGT.
Châu Phi và Đông Nam Á hiện đang đứng đầu về số ca chết do TNGT (26,6/100.000 người và 20,7/100. Hai khu vực đáng báo động khác chín là Nam Mỹ và Trung Á, số liệu tử vong trong khoảng từ 20 – 35% (32). Ước tính trong năm 2017, 6,3 triệu trẻ dưới 15 tuổi tử vong mà đa số đều là do những nguyên nhân có thể phòng ngừa được. Đuối nước và TNGT là vấn đề cần lưu ý ở nhóm trẻ từ 5 – 14 tuổi và có sự khác nhau về mức độ rủi ro do môi trường sống khác biệt, cụ thể nguy cơ tử vong ở trẻ em khu vực Châu Phi cận Sahara gấp 15 lần so với những trẻ sinh sống tại Châu Âu (33).