Tổng quan nghiên cứu

Khu vực bờ biển và cửa biển miền Trung Việt Nam luôn chịu tác động gay gắt của các yếu tố thủy thạch động lực biển. Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, dải bờ biển kéo dài từ xã Hải Dương đến xã Thuận An và Hòa Duân từng ghi nhận tốc độ xói lở nghiêm trọng từ 5 đến 10 m/năm trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2005. Sự xâm thực mạnh mẽ này làm mất đất sản xuất, đe dọa trực tiếp đến đời sống của hơn 10.000 cư dân địa phương và ảnh hưởng tiêu cực đến luồng hàng hải vào cảng Thuận An – cửa ngõ kết nối toàn bộ hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai với Biển Đông. Cửa Thuận An có chiều dài khoảng 600 m, bề rộng khoảng 350 m, độ sâu luồng tự nhiên có vị trí đạt trên 15 m và biên độ triều trung bình tương đối nhỏ, chỉ khoảng 0,25 m.

Trước tình hình xói lở phức tạp, giai đoạn 1 của dự án công trình kè bảo vệ bờ đã được xây dựng từ đầu năm 2008 và hoàn thành vào cuối năm 2010. Công trình gồm hệ thống đê kè chắn sóng bờ bắc (các kè S1, S2, B) và kè mỏ hàn phía bờ nam (kè N). Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích định lượng cơ chế động lực tương tác giữa sóng và dòng chảy, từ đó mô phỏng chính xác quá trình vận chuyển trầm tích và biến động đáy biển tại vùng lân cận công trình bảo vệ bờ cửa Thuận An.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán biến dạng đáy biển trong phạm vi không gian 180 km2 quanh cửa Thuận An dưới các điều kiện khí tượng thủy văn đặc trưng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học định lượng giúp đánh giá hiệu quả chỉnh trị của hệ thống kè hiện hữu, đồng thời đóng góp bộ công cụ dự báo xói bồi phục vụ trực tiếp công tác quản lý dải ven bờ và giảm thiểu chi phí nạo vét luồng tàu hàng năm cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp mô hình toán thủy động lực ven bờ hai chiều tích phân theo độ sâu trong hệ thống mô hình hình thái ven bờ SMS (Surface-water Modeling System). Khung lý thuyết nền tảng tích hợp chặt chẽ giữa hai phân hệ chính:

  1. Phân hệ động lực sóng CMS-wave: Xây dựng trên cơ sở phương trình cân bằng tác động sóng dạng ổn định của Mase (2001) trong hệ tọa độ Đề-các. Mô hình giải quyết các quá trình lan truyền sóng nước nông, khúc xạ, phản xạ, nhiễu xạ quanh công trình kè biển với hệ số nhiễu xạ thực nghiệm được thiết lập bằng 4, sóng vỡ do địa hình theo tiêu chuẩn Miche và tiêu hao năng lượng do ma sát đáy theo mô hình kéo Collins.
  2. Phân hệ thủy động lực và vận chuyển trầm tích CMS-flow: Dựa trên hệ phương trình nước nông tích phân hai chiều trung bình theo độ sâu, giải bằng phương pháp thể tích hữu hạn. Cơ chế vận chuyển trầm tích sử dụng công thức thực nghiệm của Lund-CIRP do Camenen và Larson phát triển năm 2006, kết hợp tính toán đồng thời trầm tích di đáy và trầm tích lơ lửng thông qua phương trình bình lưu khuếch tán liên tục.

Hệ thống bổ sung các khái niệm then chốt gồm: tensor ứng suất bức xạ sóng của Longuet-Higgins, độ nhám tổng cộng đáy biển Soulsby với kích thước hạt cát trung bình d50, vận tốc quỹ đạo đáy và tham số Shields không thứ nguyên xác định trạng thái chuyển động của hạt trầm tích.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích dữ liệu thống kê hải văn dài hạn, quan trắc thực địa và mô phỏng số trị tương tác hai chiều:

  • Nguồn dữ liệu sóng nước sâu: Được chiết xuất từ mô hình sóng SWAN toàn Biển Đông với độ phân giải lưới 0,25 độ, chạy bằng trường gió tái phân tích NCEP độ phân giải 0,5 độ trong chuỗi thời gian 21 năm liên tục (1991–2011). Dữ liệu đã được hiệu chỉnh chuẩn hóa với số liệu đo thực tế tại giàn khoan Bạch Hổ (trạm MSP-1) và các cơn bão lớn như bão Frankie tháng 7/1996, bão Wukong tháng 9/2000 và bão Linda tháng 11/1997.
  • Dữ liệu thực địa kiểm chứng: Sử dụng số liệu từ 12 đợt đo đạc định kỳ trong khuôn khổ dự án hợp tác Việt Nam – Thụy Điển (VS/RDE-03) từ tháng 1/2007 đến tháng 6/2012. Nổi bật là đợt quan trắc đồng bộ 24 giờ liên tục tại trạm V1 ngoài cửa Thuận An từ 10 giờ ngày 21/4 đến 10 giờ ngày 22/4/2007, đo đạc đồng thời dao động mực nước và vận tốc dòng chảy tại 3 tầng: mặt, giữa và đáy.
  • Thiết lập lưới tính và liên kết mô hình: Mô hình CMS-wave sử dụng lưới chữ nhật kích thước 15.000 m dọc bờ x 12.000 m ngang bờ với 300 x 480 ô lưới (kích thước ô 25 m x 50 m). Mô hình CMS-flow áp dụng lưới phi đồng nhất với 240 x 180 ô lưới, kích thước tinh chỉnh từ 25 m x 25 m tại chân công trình đến 100 m x 100 m ở biên ngoài theo tỷ lệ giãn nở 1,01. Hai mô hình trao đổi dữ liệu hai chiều đầy đủ theo chu kỳ 3 giờ một lần cho mỗi kịch bản tính toán liên tục 720 giờ (tương đương 30 ngày).

Lý do lựa chọn giải pháp mô hình cặp CMS là tính tương thích cao giữa mô đun sóng và dòng chảy, phản ánh chính xác hiện tượng dòng chảy do sóng tạo ra trong vùng sóng đổ và khả năng thích ứng linh hoạt với hình học phức tạp của các công trình đê kè ven biển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng 6 kịch bản hướng sóng chính tác động đến vùng ven biển Thuận An đã chỉ ra những phát hiện động lực học nổi bật:

  • Sự phân hóa của trường sóng và trầm tích theo mùa: Hướng sóng chiếm ưu thế tuyệt đối là hướng đông bắc và đông (từ 60 đến 90 độ theo góc khí tượng), chiếm trên 90% tần suất xuất hiện trong năm với chiều cao sóng gây biến dạng đáy cực đại Hmor đạt 2,90 m. Hướng sóng đông nam (120 đến 150 độ) chỉ tạo ra chiều cao sóng Hmor khoảng 0,58 m.
  • Đánh giá hiệu quả bảo vệ bờ của hệ thống kè: Tại bờ bắc xã Hải Dương, cụm kè đê biển khép kín S1, S2 và B đã triệt tiêu hoàn toàn năng lượng sóng tác động trực tiếp vào chân bờ, ngăn chặn 100% tình trạng xói lở đường bờ vốn từng đạt mức 10 m/năm trước đây. Tại bờ nam, kè mỏ hàn N phát huy vai trò cản dòng bùn cát dọc bờ hướng bắc, tạo ra vùng bồi tụ cát mạnh mẽ ở phía nam thân kè với độ dày bồi đắp từ 0,5 m đến 1,2 m sau 30 ngày mô phỏng.
  • Diễn biến bồi lấp luồng hàng hải và bar cát ngầm: Dưới tác động của trường sóng hướng 60 đến 90 độ, dòng ven mạnh cuốn trầm tích di chuyển vòng qua đầu kè mỏ hàn bờ nam, kết hợp cùng dòng triều rút từ đầm phá tạo ra vùng hội tụ dòng chảy. Hiện tượng này làm hình thành bãi bồi cát ngầm dạng bar cát ngay tại trung tâm luồng ra vào cửa biển, làm suy giảm độ sâu luồng chạy tàu từ 15% đến 28% so với độ sâu thiết kế ban đầu.

Thảo luận kết quả

Kết quả mô phỏng số trị đã được kiểm chứng nghiêm ngặt với số liệu đo đạc thực tế tại trạm V1. Độ lệch trung bình (Bias) của dao động mực nước đạt 0,177 m và sai số Bias của vận tốc dòng chảy tầng giữa đạt 0,0963 m/s. Điều này chứng minh mô hình tái hiện chuẩn xác quy luật thủy thạch động lực trong khu vực nghiên cứu.

Dữ liệu biến động đáy biển được trình bày trực quan thông qua bản đồ đường đẳng sâu chi tiết và biểu đồ biến thiên độ sâu tại 5 mặt cắt ngang đặc trưng (từ mặt cắt 1 đến mặt cắt 5). Tại mặt cắt số 1 và số 2 ở phía bắc luồng, đáy biển duy trì trạng thái tương đối ổn định nhờ sự che chắn của cụm đê kè. Ngược lại, tại mặt cắt số 3 và số 4 đi qua tim luồng tàu và đầu kè nam, biểu đồ mặt cắt chỉ rõ sự xói sâu cục bộ tại chân đầu kè mỏ hàn do dòng xoáy thứ cấp, trong khi khu vực tim luồng xuất hiện ụ cát bồi cao từ 0,8 m đến 1,5 m.

So sánh với các nghiên cứu động lực học cửa sông trước thời điểm xây dựng kè (năm 2005), việc xuất hiện các công trình nhân tạo đã chuyển đổi căn bản bức tranh vận chuyển trầm tích. Từ trạng thái xói lở bãi tắm tràn lan trên diện rộng, khu vực đã chuyển sang trạng thái bồi tụ cục bộ bãi biển phía nam nhưng lại làm gia tăng nguy cơ bồi lấp luồng tàu ở trung tâm cửa biển. Cơ chế này hoàn toàn trùng khớp với ảnh chụp thực địa và các đợt đo đạc GPS đường bờ vào tháng 6 năm 2012.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả tính toán định lượng và khảo sát thực địa, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện giai đoạn 2 của dự án chỉnh trị cửa Thuận An:

  1. Kéo dài và điều chỉnh hướng tuyến đê mỏ hàn phía nam: Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Ban Quản lý dự án cần triển khai thi công kéo dài thân kè mỏ hàn phía nam thêm 150 m đến 200 m chếch về hướng đông bắc. Giải pháp này nhằm mục tiêu dẫn hướng dòng bùn cát dọc bờ ra xa khỏi cửa luồng tàu, giảm 40% khối lượng cát bồi lắng vào luồng chính trong khung thời gian 2024–2026.
  2. Thiết lập quy chế nạo vét luồng hàng hải định kỳ: Cục Hàng hải Việt Nam cùng Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải cần thực hiện nạo vét duy tu luồng chạy tàu với tần suất 12 tháng/lần vào cuối mùa gió đông bắc (tháng 3 đến tháng 4 hàng năm). Khối lượng nạo vét ước tính khoảng 80.000 đến 120.000 m3 cát/năm, ưu tiên tận dụng nguồn cát sạch này để nuôi bãi nhân tạo cho các đoạn bờ bị thiếu hụt cát ở phía hạ lưu.
  3. Lắp đặt hệ thống trạm quan trắc hải văn tự động: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế cần phối hợp các viện nghiên cứu chuyên ngành xây dựng 2 trạm quan trắc sóng, dòng chảy và mực nước tự động tại khu vực cửa Thuận An trước năm 2025. Nguồn dữ liệu thời gian thực sẽ phục vụ công tác cập nhật mô hình dự báo bồi xói và cảnh báo thiên tai xói lở bờ biển.
  4. Quy hoạch và khai thác không gian bãi bồi du lịch: Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế cần xây dựng phương án sử dụng hiệu quả bãi cát bồi tụ tự nhiên phía nam kè Thuận An với diện tích gia tăng hơn 50.000 m2. Khu vực này có thể phát triển thành công viên ven biển và bãi tắm an toàn, kết hợp trồng dải cây phi lao chắn gió để cố định cồn cát trước mùa mưa bão năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và phương pháp luận của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý dự án ven biển: Cung cấp tài liệu tham khảo khoa học chuẩn xác giúp các cơ quan như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông Vận tải lập kế hoạch chỉnh trị luồng tàu và quy hoạch dải ven biển bền vững cho 28 tỉnh thành ven biển Việt Nam.
  • Kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy công: Hỗ trợ các kỹ sư công trình biển phương pháp ứng dụng tổ hợp mô hình CMS-wave và CMS-flow để mô phỏng tương tác giữa sóng, dòng chảy và kết cấu kè biển, giúp tối ưu hóa từ 15% đến 20% chi phí đầu tư xây dựng đê kè.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hải dương học, Thủy văn: Là tài liệu học thuật mẫu mực về quy trình thiết lập lưới tính, xử lý số liệu sóng viễn thám NCEP/SWAN và phương pháp hiệu chỉnh mô hình số trị bằng chuỗi số liệu đo đạc thực địa.
  • Doanh nghiệp khai thác cảng và nạo vét luồng hàng hải: Cung cấp bức tranh dự báo các vị trí bồi lắng trọng điểm và biến động đáy biển theo từng mùa gió, giúp doanh nghiệp chủ động lập tiến độ nạo vét và phương án dẫn luồng an toàn cho tàu thuyền tải trọng lớn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu lại chọn áp dụng mô hình liên kết hai chiều giữa CMS-wave và CMS-flow?

Mô hình CMS-wave tính toán trường sóng và ứng suất bức xạ truyền sang CMS-flow để xác định dòng chảy ven bờ do sóng và vận chuyển trầm tích. Ngược lại, CMS-flow cung cấp độ sâu đáy biển biến đổi và trường dòng chảy cho CMS-wave tính lại phân bố sóng theo chu kỳ 3 giờ một lần. Sự liên kết hai chiều này giúp mô phỏng chính xác hiện tượng biến đổi đáy biển liên tục trong 720 giờ.

Hướng sóng nào gây ra hiện tượng bồi lấp luồng chạy tàu mạnh nhất tại cửa Thuận An?

Hướng sóng đông bắc đến đông (từ 60 đến 90 độ) là tác nhân gây bồi lấp mạnh nhất. Hướng sóng này chiếm trên 90% tần suất trong năm, mang chiều cao sóng biến đổi đáy Hmor lên tới 2,90 m, tạo ra dòng vận chuyển bùn cát dọc bờ với cường độ lớn đổ dồn về phía cửa sông và hình thành các bãi cát ngầm chắn ngang luồng tàu.

Biên độ thủy triều nhỏ tại Thuận An ảnh hưởng như thế nào đến quá trình vận chuyển trầm tích?

Khu vực Thuận An có biên độ triều trung bình chỉ khoảng 0,25 m thuộc chế độ bán nhật triều đều. Do dao động mực nước triều nhỏ nên dòng chảy do triều không đủ mạnh để tự nạo vét đáy biển. Vì vậy, yếu tố sóng biển và dòng chảy do sóng vỡ đóng vai trò động lực chính (chiếm trên 80% tác động) trong việc khuấy động và vận chuyển trầm tích ven bờ.

Mô hình số trị đã được kiểm chứng với nguồn dữ liệu thực tế nào?

Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm chứng nghiêm ngặt thông qua dữ liệu quan trắc 24 giờ liên tục ngày 21–22/4/2007 tại trạm V1 và chuỗi số liệu đo đạc GPS đường bờ qua 12 đợt khảo sát thực địa từ năm 2007 đến năm 2012 của dự án VS/RDE-03. Chỉ số sai số Bias mực nước đạt 0,177 m và Bias vận tốc dòng chảy đạt 0,0963 m/s khẳng định độ tin cậy của kết quả tính toán.

Hệ thống kè xây dựng giai đoạn 1 đã giải quyết triệt để vấn đề xói lở tại Thuận An chưa?

Hệ thống kè giai đoạn 1 đã ngăn chặn triệt để xói lở tại dải bờ biển xã Hải Dương (bờ bắc) và biến vùng bờ biển phía nam thành bãi bồi tụ. Tuy nhiên, công trình chưa xử lý được hiện tượng bồi lấp luồng tàu tại trung tâm cửa biển và gây xói lở cục bộ cục bộ chân đầu kè nam, đòi hỏi phải tiếp tục triển khai các giải pháp công trình bổ sung trong giai đoạn 2.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công hệ thống mô hình số trị cặp đôi CMS-wave và CMS-flow mô phỏng chi tiết quá trình vận chuyển trầm tích và biến dạng đáy biển vùng ven bờ cửa Thuận An.
  • Chuỗi số liệu sóng 21 năm (1991–2011) được xử lý khoa học để xác định 6 kịch bản sóng đặc trưng, chứng minh sóng hướng 60–90 độ với chiều cao Hmor đạt 2,90 m giữ vai trò chi phối hình thái đáy biển.
  • Đánh giá định lượng hiệu quả công trình giai đoạn 1: Bảo vệ an toàn bờ biển phía bắc Hải Dương, thúc đẩy bồi tụ cát bãi biển phía nam từ 0,5 m đến 1,2 m nhưng tạo ra bar cát ngầm bồi lấp luồng tàu hàng hải.
  • Các kết quả tính toán có độ tin cậy cao, sai số vận tốc dòng chảy kiểm chứng đạt mức 0,0963 m/s, phù hợp với diễn biến địa hình đo đạc thực tế giai đoạn 2007–2012.
  • Kiến nghị kéo dài đê mỏ hàn phía nam thêm 150–200 m và thiết lập quy trình nạo vét duy tu định kỳ 12 tháng/lần nhằm hoàn thiện công năng chỉnh trị trong kế hoạch 5 năm tới.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm đến giải pháp chỉnh trị bờ biển có thể áp dụng ngay quy trình mô hình hóa này để nâng cao hiệu quả các dự án công trình bảo vệ bờ ven biển Việt Nam.