CHƯƠNG 1 TONG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIEN VÀ HÌNH THỨC DE BIEN 1.1: Tình hình đối với dé biển trên thể giới: văn mình, văn hóa của các quốc Bi số ảnh hưởng lớn đến sự phát triển n gia sống ven biển. Nghiên cứu về nén văn hóa biển đông Nam A các nhà khoa học đã khẳng định "Văn hóa biển là 1 trong 3 nền tảng của văn hóa bản địa Đông Nam: Nii, đồng bằng, và biển" Van hóa biển có vai trd rit to lớn đối với sự phát tiển kinh tê- xã hội của các quốc gia sông trên bờ các đại dương. Việt nam là một nước thuộc các quốc gia vùng Đông Nam A. Biển Đông Nam Á có vị tr đặc biệt tên đường giao lưu quốc tế nó nỗi liên Thái Bình Dương với An Độ Dương trở thành của ngõ trên tuyển đường hing hải nỗi liền Đông A với Tây Au và Châu Phi.
Đối với các quốc gia Đông Nam A biển là con đường truyền giáo. hiệu quả nhất, là con đường thương mại số 1, là nơi "Quyết từ cho tổ quốc quyết sinh” và cũng như các vùng biển khác biển Đông Nam A là một kho báu về tải nguyên thiên nhiền Các quốc gia ở vũng ven biển luôn phải đối mặt với bão tổ, triều đăng, sóng gió, sóng thần. nhất là những tác động do biển đổi khí hậu mà mức độ nguy hiểm. của nó đang còn ta dự báo, Xây dựng hệ thông để bí và phát triển mạng lưới cảnh báo sông thần là một trong những chiến lược quan trọng và cắp tết hiện nay của các quốc gia có bir biển và đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia có nhiều vùng, cất thấp hơn mực nước biển và những nơi chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai Lãnh thổ Hà lan là một vùng đất thấp hơn mực nước biễn có nhỉ khu vực.
ngập lụt, nhiễm mặn, phèn hi „ là châu thổ chịu lũ chính của lưu vực, tiền tiêu chịu triều cường của biển bắc, lịch sử phát triển của Hà lan là lịch sử đắp đẻ vả hứng. chịu những thảm họa từ phía biển. Ghaaén ngành: Xây đựng công mình thư) Hình!.!: Dé bien AfRluitdifk đài hơn 32km, rộng 90m, cao 7. trên mực nước biển trung bình Sau thảm họa lich sử năm 1953, chính phủ Hà Lan đã quyết tâm xây dựng dự án để biển.
Dự án kéo dài từ năm 1958 đến năm 1997 với kính phí lên tới hàng ngần tý Guider (tiền Ha lan). Dự án 1m cáo dip khôn, các đập phụ gần cia sông va các tuyển đề hiện đại (xem hìnhI.l) iu này làm cho Hà Lan không chỉ nỗ tếng bởi về hoa tulip, cối xay gió, những đôi giày gỗ.mà còn nổi tiếng bởi những công tình biển vi đại hàng đầut ‘Thanh tựu về chỉnh phục biển, Ha Lan xứng đáng vi đánh giá nên thể giới nhưng Hà Lan được tạo đựng bởi chính người Hà Lan" ‘Hau như các nước ven biển đều có những vùng đất thấp hơn mực nước biển vì vậy kinh nghiệm va kỹ thuật để bién được sử dung và phát triển rất rộng rãi. Tay thuộc vào sự phát triển của nền kính. và mức độ khoa học và mức độ hiện đại của các công trình để biển ở những mức độ khác nhau.
Ngoài Hà Lan các nước có kinh nghiệm và độ khoa học công nghệ về dé biển thu hút sự chủ ÿ của th giới còn có Mỹ, Dan Mạch, Nhật Bản, Trung Quốc. Cho đến nay các nước ở rên bờ biển đều coi việc xây dưng hệ thống để biển là giải pháp hữu hiệu nhất để đề phỏng, chống và thích ứng ngăn chặn nước biển dâng và “đất ở và canh tác. Ghaaén ngành: Xây đựng công mình thư) 6 Luận vin Thục sĩ ình hình đối với dé biển Nam: Việt Nam, ngay từ thé ky XV ông cha ta đã xây dựng hệ thống để biển và không ngừng tôn cao, mở rộng qua các thời ky giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay dọc theo hơn 3200 km bờ biển, nước ta có khoảng 719 km dé biển kiên cổ, hình thành hệ thông để biển bảo vệ cho 2# tinh thành phố bao gồm 110 huyện thị xã và đang phát buy hiệu quả phỏng tránh thiên tai tạo điều kiện cho các địa phương miễn duyên hải phát triển kính tế xã hội.
Sự nghiệp xây dựng đê fi sự nghiệp của quần chúng, gn ibn với lịch sử phát tiển của đất nước nên nó mang đặc điểm kỹ thuật dân gian đúc rút kinh nghiệm và kỹ thuật hiện đại theo từng giai đoạn phát triển, Ở các nước dang phát triển như nước ta tính hiện đại còn hạn chế. Hệ thông dé biển nước ta hẳu hết được phát triển trên các tuyển để biển hình thành từ lịch sử thiêu hẳn sự quy hoạch „ thống nhất khoa học để biển. Hau hết dé biển được đắp bằng đắt không được lựa chọn, nền để là nền dit yếu. Chiễu đồi tuyến để mới chiếm khoảng 42.3% tổng chiều dai bờ biển và mới có khả năng chịu ti với gió cắp 9 trở xuống Cụ thé là: Nước ta có tổng số hơn 2000 km để biển trải dài từ Quảng Ninh tới Kiên Giang, trong đồ đoạn để biển từ Quảng Ninh tới Quảng Nam chịu tác động của bão lớn nhiều nhắc.
Hiện nay các tuyến để biển, đê cửa sông từ Quảng Ninh đến “Quảng Nam có tổng chiều đãi khoảng 1454 km, trong đó cổ khoảng 853 km để biển, còn lạ là để của sông. Để biển vùng đồng bằng bắc bộ phần lớn được xây dựng từ thời nhà đê biễn Thanh Hóa, Nghệ An được hình thành từ những năm 930, phần lớn đề biển và đê cửa sông khu vực min trung được dip trước và sau năm 1975, các tuyển dé biễn ban đầu được đắp chủ yếu do nhân dân tự đắp nhằm. bảo vệ sản xuất, nhà nước hỗ trợ kinh phí để đấp một số tuyền đề biển quan trọng Các tuyển đê thường được đầu tư khôi phục, cải tạo, nâng cấp, tu bổ hàng năm thông qua các dự án. Hiện trạng các uyển đê biễ ti c khu vực có thể tóm tắt các .đặc điểm chung như sau: Ghaaén ngành: Xây đựng công mình thư) 7 Luận văn Thục sĩ 1.1: Bé bién các tink Bắc bộ: Từ Quảng Ninh đến Ninh Bình Ving ven biển ding bằng Bắc Bộ là nơi có địa hình thấp ting, là một tung tâm kinh tế của cả nước - đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, tập trung din cư đồng diie, Day là vùng biển có biên độ thủy tr u cao (3- 4 m) và nước dâng do bão cũng lớn.
Để bio vệ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, các tuyến dé biển, để cửa sông ở khu vực này đã được hình thành tert sớm và cơ bản được khép kín. Tổng chiều dài các tuyển để biển, để cửa sông khoảng 434 km trong đỏ có trên 350 km để trực tiếp biển. Để biển bắc bộ có bề rộng mặt để nhỏ từ 3-4 m, nhiều đoạn đê <2 m, như một số đoạn thuộc các tuyển dé Hà nam, đê bắc Của lục, dé Hoàng tân (Quảng ninh) để biển số 5, số 6, số 7 và số 8 (Tinh Thái bình) để Cát hai (Hải phòng) mái đê phía biển 2/1- 3/1 (đối với đoạn dé đã được nâng cắp từ 3/1-4/1) mái pl ia đồng từ 1,8/1-2/1 (đối với đoạn đã được nâng cấp từ 2/1-3/1) cao độ định để dao động từ 3,5-3 m, một số nơi sau khi được đầu tư bởi dự án PAM 5325 có cao độ dinh đề (hoặc tường chin sóng) là 5.5m như đề biển Hải hậu, Giao thủy (Nam định) dé biển sốI, I Hải phòng) Chất lượng đất thân dé là đắt thịt nhẹ, đắt phù sa cửa sông. Ham lượng cắt tăng đối với các tuyến xa din cửa sông.
Một số tuyển đoạn dé hoàn toàn bằng đất cất như Hải thịnh (Nam định) Mai dé cửa sông ven biễn bắc bộ được bảo vệ phần lớn ở các tuyển bằng trồng cỏ. Những đoạn chịu đoạn chịu tác dung trực tiếp của sóng, gió bảo vệ kè đã lt mắi, kết cầu kè đá đang sử dụng ở các địa phương là lớp đá hộc dày 30 em xếp khan trên một lớp đã dam dây 10 cm, áttừ chân để phía biển lên đến cao trình dinh đê. “Trọng lượng mỗi viên đá khoảng 10- 40 kg, một số nơi bãi biển bị bào mòn, ngoài lit mai làm kẻ cin làm một số mỏ hàn dọc và ngang để bảo vệ bai. Kế mỏ bằng đá hộc mái hai phía I/I mặt rộng Ï m dài 70 m, xây dựng thành hệ thống như ở khu vực Văn lý- Hải hậu (Nam định).
Sau khi được đầu tu khôi phụe, ning cấp thông qua dự in PAM 5325 và quá trình tu bổ hàng năm, các tuyển dé biển nhìn chung đảm bào chống được mức nước. Ghaaén ngành: Xây đựng công mình thư) 8 Luận vin Thục sĩ triểu cao tần suất 5% cổ gió bão cắp 9. Tuy nhiên, tổng chiều đi các tuyển để biễn rt lớn, dự án PAM mới ch tập trung khôi phục, ning cấp các đoạn để xung yếu. Mặt khác, do tác động thường xuyên của mưa, bão, sóng lớn nên đến nay hệ thông để biển Bắc bộ vẫn còn nhiều tồn ti, trong đó các tồn tại chính được tóm tắt như sau: - Nhiều đoạn thuộc tuyển dé biển Hải hậu, Giao thủy thuộc Tinh Nam định đang đứng trước nguy cơ bị vỡ do bãi biển liên tục bị bào môn, hạ thấp gây sat lở chân, mái bảo vệ mái đt đc doa rực tiếp đến an toàn của để en, một số đoạn trước đây có rùng cây chin sóng bị phá hủy, dé trở thảnh trực tiếp chịu tác động của sóng, thủy triểu nên nếu không được bio vệ sẽ có nguy cơ vỡ bắt cứ khi nào.
Có đoạn trước đây đê có 2 tuyến nên tuyến dé trong không được bảo vệ mái, đến nay tuyển đê ngoài đã bị vỡ nên tuyến dé trong cấp thiết phải được củng cổ, bảo. ng vỡ, - Còn 257,5 km dé biển, để cửa sông chưa dim bảo cao trình thiết kế cao độ dinh để khoảng tử 3, 5 m trong khi cao độ thiết ké là 5- 5.5m - Đa số các tuyến dé ban đầu được đắp có chiễu rộng mặt đê < âm, đến nay trừ các tuyến dé biển số I, I, II (chiểu dai khoảng 46,913 km) thuộc Hải phòng có. chiều rộng mặt để B— 5 m, côn lại 152.5 km để có chiều rộng khoảng 4- 4,5 m, 150 km có chiều rộng 3- 4 m và 125 km có chiều rộng < 3 m, cá biệt có nơi chỉ rộng. Chiều rộng mặt đê nhỏ gây khó khăn cho việc giao thông cũng như kiểm, tra, ứng cứu như các tuyến đề Hà nam (Quảng ninh), để bi Hai hậu, Giao thủy, (Nam định) đề biển số 5, 6, 7, 8 (Thái bình).