chương 1 Chương 2: Cơ sở lý thuyết trường hợp sóng và tiểu cường trần qua để ~ Các phương pháp tính toán thông số sóng ngoài khơi ~ Các mô hình số trị để tính toán an truyền sóng từ vùng nước sâu vào vùng nước nông Nghiên cứu sóng tràn qua dé biển trong điều kiện bão và triều cường. - Cơ sở dữ liệu sóng tran ~ Mô hình tính toá n sóng tràn qua để biển Chương 3: Nghiên cứu xói mái cổ phía đồng để bin do sóng trần trong bão và triều cường Tuận văn Thực sĩ u Giới thiệu chung ~ Một số phương án gia cổ mái hạ lưu ~ Mô hình vật lý về khả năng chịu xói của mái đê phía đồng dưới tác dụng của sống trần ~ Mô hình hóa xói mái trong dé biển mái cỏ Chương 6: ng dung tính toán cho dé biển Giao Thủy, Nam Định = Giới thiệu chung về công tình - Ứng đụng mô hình toán phân tích cơ chế xói mái đề phía đồng ở Giao "Thủy, Nam Định ~ Phát eign mô hình toán phân tích cơ chế x6i mái đề phía đồng ở Giao “Thủy, Nam Định có tính đến hiệu ích kinh tế và kiến nghị Chương5: Kết luận "Những kết qua đạt được ~ Những tn tại trong quá trình thực biện luận van ~ Những kiến nghị về hướng nghiên cứu tiếp theo - Tài liệu tham khảo, ~ Phụ lục mặt cắt điển hình các phương án thiết kế dé biển Giao Thủy, Nam Định - Phụ lục các phương án tổng mức đầu tư xây dựng công trình Tuận văn Thực sĩ 1 CHƯƠNG L TONG QUAN VE TINH HÌNH XÂY DUNG ĐỀ BIEN 6 VIET NAM 1. TONG QUAN VE TINH HINH XÂY DỰNG DE BIEN 6 VIET NAM Công trình đê, kẻ biển được xây dựng nhằm bảo vệ din cư, kinh tổ, môi trường,. phía trong dat liền khỏi ngập lụt, biển Ian,.
dưới sự tác động của các. you tổ thủy động lực học như sóng, nước dng, ngập lt. Để đảm bảo được các chức năng theo yêu cầu thi độ cao của công trinh hay độ vượt cao của đỉnh công tinh phía tin mực nước biển tinh toán (cũng gọi là độ lưu không của định đề) là một tham số thiết kế quan trọng. ‘Vigt Nam có gần 2.000 km đê biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, được thiết kế chịu được gid bão cắp 9 với mức tiểu trung bình.
Do xây dựng từ những năm 60 của thé kỷ trước, lại không được tu bổ thường xuyên nên nhiều đoạn đã xuống cấp. Gin diy nhất, tong cơn bão số 7 xây ra cuối thắng 9/2005, một số đoạn để của Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa đã vỡ túng Trong hơn 2.000 km dé bié cả nước, hệ Ú ống dé biển kéo dài 683 km tử (Quảng Ninh đến Quảng Nam hầu như thường xuyên phải chịu các tác động trực tiếp do sóng lớn, mưa bão. Trước đó, Bộ Nông nghiệp đã trình Chính phủ đề án nâng. cắp toàn diện hệ thống đề biễn.
Giai đoạn 1 từ Quảng Ninh đến Quảng Ngãi, giai đoạn 2 từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang. Tổng kinh phí 10.000 tỷ đồng cho mỗi giai đoạn, thời gian thực hiện S năm. Hệ thống đê biển Việt Nam: Yếu ớt, mông manh trước bảo lũ. Cứ mỗi mùa ma én, người din vùng ven biển Iai sing trong cảnh "Sinh tứ”, buộc phải đối mặt mới bão lũ, nước biển ding, Sự mênh mông của trừ, biển ỷ lễ nghịch với sự nhỏ b u ớt của con người và chính con để quai trước biển.
Không lo lắng sao được, khi mà hệ thống đê biễn luôn bị de dog trước mưa, gid, bão và nước bid Theo cảnh báo mới nhất của Liên hợp quốc, Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của hiện tong nước biển dang. Theo tính toán của các nhà khoa. học thi mực nước biển ting Im sẽ thiệt hai về kinh tế lên tới 1,7 ty USD; 1/5 dân số mất nha cửa; 12,3% diện tích trồng trọt sẽ biến mắt và 40.000 km2 điện tích đắt đồng bằng, I7km2 điện tích ba biễn ở khu vục các tinh thuộc hưu vực sông Mé Tuận văn Thực sĩ B Kông sẽ phải chịu tác động của những trận lũ ở mức độ không thể dự đoán được. "rước, Các nhà khoa học khẳng định, đó là dự báo nhưng cũng là căn cứ để chúng ta củng cổ và nâng cấp hệ thống dé biển một cách chuyên nghiệp.
“Thực t, các tuyển để biển từ Quảng Ninh tối Quảng Nam dang ở trong tình trạng "một mắt, một còn". Hệ thông dé biển này đang phải đối mặt với những cái thiểu và yếu như: bé rộng nhỏ, trung bình chi từ 3-4m, trong khi du chun là 5- 55m. T m chí đoạn dé Hoàng Tân ở Quảng Ninh chỉ chưa rộng được 2m, Chất lượng dé kèm, bởi nguyên liệu lâm đề là đt. Có những dia phương.
dit cắt pha có độ chua lớn, không trồng được cỏ, bé mặt để nhanh bị xói mòn. Tuyển để biển ở Hải Hậu (Nam Định) được đắp chủ yéu bằng dat thịt có cát phủ, mái đê không có. bio vệ nên thường xuyên bị xói môn, sat lờ khi có mưa. Phần lớn đê biển của chúng.
ta không có dải chắn sóng phía trước. Một số nơi có dải chắn sóng là rừng ngập. mặn thì lại bị người dân địa phương khai thác thuỷ sản không đúng cách nên phá hỏng hệ sinh thái của rừng, một số nơi thì rừng ngập mặn chắn sóng bị phá huỷ để nuôi trồng thuỷ sản. Từ Quảng Ngũ in Kiên Giang có 518 km dé biển và 326 km 48 cửa sông đang bị xuống cấp rit nghiêm trọng.
Hệ thống dé ở khu vực trên không được xây dựng một cách chuyên nghiệp và không được quan tim đúng mức cho việc gia cổ thường xuyên mỗi năm, Đã vậy, đoạn để này thường xuyên phải sống chung với triều cường. Do công tác quy hoạch, thiết kế và xây dựng không chuyên nghiệp nên phần lớn các tuyển dé biển và để sông của chúng tu chưa thành một hệ thống khép kín. Tại nhiều đoạn dé biển, sông còn thiểu cổng, cầu nên chưa thể chủ động trong việc tiêu úng, gây rất nhiều khó khăn khi bão lũ và triểu cường ding Hàng năm, phần lớn các tỉnh có để biển đều được Trung ương phân bé kinh. phi và dia phương cũng dành ra một phần kinh phí trong ngân sách để tu bổ, sửa chữa, gia cổ dé biển.
Song, xem ra, hệ thống dé biển Việt Nam vẫn cứ nhỏ, yếu. Cụ thé sau năm 2005 Nam Dinh mới chỉ được cấp 400 tỷ đồng/.400 tỷ được cấp để kiên cổ hoá hệ thống để biển; Hai Phòng mới chỉ nhận được 100 tÿ/1.100 tỷ đồng cũng với mục đích trên. Với kinh phí nhỏ giọt thì việc gia cổ, sửa chữa cũng diễn ra tương tự, manh min, nhỏ lẻ. Để biển vẫn cứ mỏng manh rước bảo là chuyện Tuận văn Thực sĩ 1 không trình khỏi.
Một phếp tink: tận bo năm 2005 tan phá nặng né hệ thống đề biển, nhiễu nơi, đến nay vẫn đang trong tinh trang khắc phục, Nhà nước đã phải chỉ a "u nghìn tý để khắc phục hi quả của trận bảo. Vậy, nếu số tiễn đem đi khắc phục hậu qué đó, dùng vio việc xây dụng hệ thống để biển chuẩn, chuyên nghiệp thì chắc chắn, khi có bão, thiệt hại sẽ giảm thiểu rất nhiều, thậm chí không đáng kẻ. Đặc biệt chúng t không côn phi sing trong tâm trang lo ngại mỗi khi mia mưs bão đến GS.TS Ngô Đỉnh Tuấn - Hội Báo vệ thiên nhiên và mỗi trưởng Việt Nam phân tích: Chiến lược để biển cin xét theo quan điểm phát triển lu bền kinh tế vùng kết hợp hữu cơ giữa kinh tế biển vả chiến lược an ninh quốc phòng. để biển cần được đầu tư cũng cổ, ning cấp tạo thành tuyén khép kin.
Chiễu rộng mặt đê ci thi từ 56m; thiết kể đủ điều kiện chống chọi với bảo ấp 9, 10. Riêng để bảo vệ khu vực din cư cần đảm bảo bão cấp 12 với mức tiểu cường tin suất là 5%. Ngoài ra, Chính phủ nên có quy hoạch đê biễn với tim nhìn xa từ 20 đến S0, thậm chí là 70 năm. Có như vậy thì hệ thông đề biển mới khả năng ứng phố với sự biển đổi khí hậu toàn cu, nhất là hiện tượng "biển tiến”.
Theo thong tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thì hiện Bộ đang nhanh chóng hoàn chỉnh dy án nâng cấp hệ thing dé biển, để cửa sông tình Chính phù phê duyệt. Khi Chính phủ phê duyệt, dự án sẽ được tiễn khai ngay để đáp ứng mục tiêu trước mắt và lâu aii 6 Vig nam để biển thường có cao trình đình khá thấp, phổ biển từ 4. Lượng sóng tràn qua dé trong điều kiện bảo thiết kế là tương đối lớn, tùy từng. khu vực có thể lên tới hàng trim lit trên giây trên một mét chiều di đê.
Sóng tràn gây xói mái, mit ổn định mái trong dẫn đến vỡ dé lả cơ chế gây hư hỏng để phd biếnnhất ở nước ta, Cao trình đình đề cũng như là yêu cầu về kết cấu bảo vệ mái dé đặc biệt là mái phía trong có iên hệ mật thiết với lượng sóng trin qua đẻ. Nghiên cứu sóng trần do vậy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thiết kế các chỉ tiết cầu tạo hình học và kết cấu của dé kẻ. Đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dng Tuận văn Thực sĩ 15 hiện nay thì việc xem xét ti trọng sóng trần trong ết kế dé biển là điều kiện thiết yếu 12. ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG 6 VIỆT NAM 1.
Đặc điểm khí tượng ‘Nam trong vành đai nhiệt đới gió mùa châu 4, sát biển Đông nên nước ta chịu. nh hưởng của gié mia, Mùa giỏ bắc (mùa đông) lạnh và khô kéo dit từ thẳng 11 ‘én tháng 4 năm sau xuất hiện ở miễn Bắc, còn miễn Nam thi khô hanh và Không lạnh. Gió mùa nằm (mùa ha) mát mẻ, nhiều mưa kéo đi tử tháng5 đến thắng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1,600 - 1.800 mm, Bão thường xây ra từ thing 6 đến tháng 10.
Thời tết có 2 mùa rõ rộ, mùa khô và mùa mưa. Khí hậu tương đối ôn hoà, Do nằm sắt biển, về mùa khô, thời thiết khô thoáng nhiệt độ trung bình từ 12% đến 27% và về mùa hệ mắt mẻ, nhiệt độ cao hơn tử 23c đến 33%e, Nhiệt độ tung bình hing thing từ 24 - 30°C, cao nhất có khi tới 40°C, thấp nhất i khi dưới 5C, Độ ẩm trung bình trong năm là 80% én 85%, cao nhất là 100% vào những thing 7, thing 8, thing 9, hấp nhất la vào tháng 12 và thắng 1. Trong suốt năm có khoảng 1.