CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Các báo cáo và thống kê về sự ảnh hưởng của mũ ATCN đến NLĐ 1. Tình hình trong nước. Năm 2018, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo rên toàn quốc đã xảy ra 7.997 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 8.229 người bị nạn, trong đó: - Số người chết vì TNLĐ: 1.039 người (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 622 người, giảm 6,6% so với năm 2017; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 417 người, tăng 59,16% so với năm 2017); - Số vụ TNLĐ chết người: 972 vụ (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 578 vụ, giảm 10,8% so với năm 2017; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 394 vụ, tăng 57,6% so với năm 2017); - Số người bị thương nặng: 1.939 người (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 1.684 người, tăng 0,18% so với năm 2017; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 255 người, tăng 8,97% so với năm 2017); - Nạn nhân là lao động nữ: 2.667 người (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 2.489 người, tăng 7,42% so với năm 2017; khu vực người lao động làm việc không theo hợp động lao động: 178 người, giảm 56,58% so với năm 2017) Hình 1.
Số liệu thống kê tai nạn lao động từ năm 2016 đến 2018 9 1. Tình hình nước ngoài. Hàn Quốc được biết đến là một nước phát triển, đối với an toàn trong lao động họ xem đó là một chính sách cần thiết và luôn được chú trọng hàng đầu. Hiện nay nói về PTBVCN thì Hàn Quốc được biết đến là nước đang cung cấp nhiều sản phẩm nổi tiếng và chất lượng trên thị trường trong đó có Việt Nam như: COV, HANKO…Chính vì vậy song song với việc phát triển thị trường thì vấn đề nghiên cứu cơ sở khoa học và xây dựng phương pháp, công bố các chỉ số được các cơ quan quản lý Hàn Quốc rất chú trọng.
Năm 2018, Sung Hun Kim 1, Changwon Wang 2, Se Dong Min 3 and Seung Hyun Lee 4 [24], đã công bố về công trình “Nghiên cứu hệ thống quản lý mũ ATCN cho công nhân trong ngành xây dựng bằng cảm biến gia tốc ba trục”. Báo cáo này đưa ra về tình trạng tai nạn lao động do tai nạn dẫn đến tử vong do chấn thương bộ phận đầu ở năm 2017 tăng 4,5%, nguyên nhân là do sử dụng mũ ATCN không đúng cách. Thống kê tai nạn lao động tại Hàn Quốc năm 2016 Qua đó cơ quan Bộ lao động và Bộ Y tế tại Hàn Quốc đã xây dựng nhiều chỉ tiêu, tiêu chuẩn và các khuyến nghị cảnh báo, hướng dẫn thực hiện đúng về cách sử dụng mũ ATCN. Hướng dẫn thao tác khi sử dụng Mũ ATCN đúng cách Tại Hàn Quốc thì KOSHA được biết đến là đơn vị duy nhất có chuyên môn về an toàn lao động và họ có chức năng được phép thử nghiệm các chất lượng PTBVCN trong đó có mũ ATCN.
Hệ thống thử nghiệm độ bền va đập Mũ ATCN tại KOSHA Nước Mỹ cũng được biết đến là một quốc gia có nhiều chính sách quan trọng về sự an toàn cho người lao động, các PTBVCN do Mỹ sản xuất đều có một quy trình nghiêm ngặt và kinh phí để sử dụng nó cũng không hề nhỏ. 11 Năm 2016, Sang Chul Kim 1, Young Sun Ro 2, Sang Do Shin 3 và Joo Yeong Kim 4 [25] tại tạp chí “Sức khỏe cộng đồng” có bài viết nói về tác dụng phòng ngừa tai nạn liên quan đến chấn thương sợ não khi không dùng mũ ATCN. Báo cáo này đưa ra con số so sánh tỉ lệ tai nạn sọ não gây chết người liên quan đến phần đầu tại Hàn Quốc là 20%, còn tại Mỹ là 14% trên tổng số người chết do tai nạn mỗi năm. Ảnh hưởng của chấn thương so với chiều cao khi tương tác mũ ATCN 1.
Các quy định liên quan đến mũ ATCN An toàn lao động, luôn là một vấn đề được xã hội và nhiều ban ngành quan tâm. An toàn để sản xuất ra của cải vật chất nhưng sản xuất ra của cải vật chất thì phải an toàn. Đó luôn là khẩu hiệu mà người lao động phải nhớ. Bên cạnh những biện pháp về kỹ thuật đảm bảo, một biện pháp cuối cùng và không thể thiếu đó là sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân và mũ an toàn công nghiệp là một trong những phương tiện đó.
Bởi mũ an toàn công nghiệp là phương tiện bảo vệ cá nhân có công dụng đặc biệt dùng để bảo vệ đầu người lao động khỏi chấn thương do các vật rơi hoặc một số yếu tố nguy hiểm khác gây ra như điện, hóa chất. do vậy cần quan tâm tới chất lượng của mũ an toàn công nghiệp. Chính vì vậy hiện nay có nhiều văn bản được các cơ quan quản lý nhà nước ban hành và đang có hiệu lực áp dụng liên quan đến các quy định về chỉ tiêu kỹ thuật, yêu cầu đối với mũ an toàn công nghiệp. Cụ thể: 12 - Thông tư Số: 04/2014/TT-BLĐTBXH ban hành ngày 12 tháng 02 năm 2014 quy định về “Hướng dẫn việc thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân”, trong đó có quy định bắt buộc các đối tượng sử dụng Mũ an toàn công nghiệp trong các công việc cụ thể; - QCVN 06:2012/BLĐTBXH do Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Mũ an toàn công nghiệp biên soạn, Cục An toàn lao động trình duyệt, Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và được ban hành theo Thông tư số 04/2012/TT - BLĐTBXH ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
- TCVN 2603 – 87 quy định về yêu cầu “Mũ bảo hộ lao động cho công nhân hầm lò” - TCVN 6407 : 1998 tương đương với ISO 3873 : 1977 quy định về “yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử cho mũ an toàn công nghiệp” - Thông tư 28/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ KHCN quy định về hướng dẫn “Công bố hợp quy mũ bảo hộ lao động” 1. Các nghiên cứu liên quan đến mũ ATCN 1. Nghiên cứu trong nước. Ở Việt Nam chất lượng của mũ an toàn công nghiệp trong nhiều năm nay được quan tâm như đã ban hành các tiêu chuẩn TCVN 2603-1987 và TCVN 6407- 1998, nay các chỉ tiêu chất lượng được qui định trong qui chuẩn QCVN 06:2012/BLĐTBXH, do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, để giám sát chất lượng mũ, sau đây có một số nghiên cứu liên quan tới mũ an toàn công nghiệp: Năm 1985, KS.
Nguyễn Quốc Chính và cộng sự [2], đã nghiên cứu mũ chống chấn thương sọ não. Kết quả của nghiên cứu đã đề xuất được hệ thống chỉ tiêu kỹ thuật cho mũ, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Xây dựng đồng bộ hệ thống thiết bị thử các chỉ tiêu kỹ thuật của mũ. Ví dụ sử dụng lực kế và hệ thống cảm biến để đo độ giảm chấn của mũ đảm bảo độ tin cậy cao để xác định thời gian bắt cháy của thân mũ thay cho xác định tốc độ bắt cháy của vật liệu.
Lưu Văn Chúc và cộng sự [1], đã xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng mũ an toàn công nghiệp hiện đại tương đương với hệ thống đánh giá chất lượng của các nước như Nhật, Hàn Quốc.Cụ thể đã xây dựng hệ thống thiết bị bao gồm các thiết bị sau: Thiết bị đo độ bền va đập, giảm chấn và đâm xuyên với dải đo: 1-10kN, sai số≤7%, thiết bị đo độ bền cháy, thiết bị đo độ cứng ép ngang. Do đó việc giám sát chất lượng của mũ an toàn công nghiệp đã được thực thi trong vài năm gần đây. Thiết bị thử nghiệm Mũ ATCN Năm 2010, Nguyễn Thị Thu Thủy và cộng sự [6], xây dựng được qui trình thực nghiệm xác định thời gian sử dụng mũ an toàn công nghiệp sử dụng ngoài trời ở Việt Nam và đã xác định được thời gian sử dụng của một số loại mũ phổ biến dùng hiện nay. Mũ ATCN sau khi thử nghiệm Năm 2009, TS.
Phạm Thị Bích Ngân [3], và các cộng sự đã đề cập đến khả năng chống nóng của 2 loại mũ bảo hộ lao động: màu trắng và màu xanh. Phía trong mũ có một lớp xốp mỏng (khoảng 2 cm) có tác dụng chống nóng. Mũ ATCN có lớp xốp (Hàn Quốc) Hình 9. Mũ ATCN không có lớp xốp (Việt Nam) 15 1.
Nghiên cứu nước ngoài Năm 1986, Hickling [14], đã nghiên cứu 12 yếu tố có thể ảnh hưởng tới việc bảo vệ đầu người đội mũ khi làm việc đó là: độ bền thời tiết, tính chất nhiệt, độ bền va đập/giảm chấn, phân bố khối lượng, mức độ vừa vặn, cỡ và kiểu dáng, độ vừa vặn và sự duy trì hoạt động, thể tích của mũ, yếu tố tầm nhìn, các yếu tố tốc độ và âm thanh, tính tương hợp của mũ. Năm 1989, Nagata [17] đề xuất các yêu cầu cho một chiếc mũ được đội trong suốt mùa hè đó là: - Vật liệu sản xuất mũ phải phản xạ tốt bức xạ nhiệt từ mặt trời, ví dụ, màu trắng hoặc với một bề mặt phẳng và nhẵn. - Hệ số truyền nhiệt thấp cho các vật liệu làm thân mũ; - Thông gió hoặc không gian mái vòm đủ rộng để ngăn chặn sự gia tăng nhiệt độ và độ ẩm giữa thân mũ và đầu. Năm 1976, Fonseca [11], nghiên cứu ảnh hưởng của khe thông gió trong mũ ATCN tới truyền nhiệt bay hơi.
Tác giả xác định rằng tổng diện tích bao phủ đầu cần thiết giảm từ 67% đến 47% làm tăng đáng kể truyền nhiệt bay hơi. Thêm vào đó, lợi ích của hệ thống thông gió không tồn tại khi một không gian không lớn tồn tại giữa vỏ mũ và đầu. Năm 1988, Abeysekera và Shahnavaz [7], nghiên cứu những lợi ích của mũ ATCN thông gió trong cả ở phòng thí nghiệm và ở khu khai thác. Trong nghiên cứu này, mũ thông gió đã được nhận thấy là ít nóng hơn và do đó đổ mồ hôi ít hơn so với mũ không có thông gió.
Halimi và cộng sự [15] đã mô phỏng số về tính chất trao đổi nhiệt và độ ẩm của mũ an toàn công nghiệp. Để giúp người thiết kế tối ưu hóa các tính chất nhiệt của mũ, ảnh hưởng của độ dẫn nhiệt và độ dày lớp lót vào nhiệt độ vi khí hậu của mũ 16 1. Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử Mũ ATCN 1. Yêu cầu kỹ thuật Mũ ATCN hiện nay rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã để phù hợp với từng công việc.
Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng mũ ATCN là vô cùng lớn, lượng lao động này chủ yếu là các ngành xây dựng, cơ khí, viễn thông.