CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ 1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 1.1 Vị trí địa lý Sông La Ngà là phụ lưu lớn nhất bên tả ngạn sông Đồng Nai, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh ven khu vực thành phố Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng với diện tích 4. Là nơi hợp lưu của ba con suối nhỏ có tên: Rơ Nha, Đac Toren và Đac No ở độ cao trung bình hơn 1.000m, nơi cao nhất tới 1.460m, nhưng về tổng thể có thể coi là ba nhánh sông bắt nguồn từ phía tây, đông bắc, và đông thành phố Bảo Lộc, theo đường chim bay khoảng 7 km. Phạm vi của lưu vực sông trải dài trong khoảng tọa độ 10709’20” – 108010’ kinh độ Đông và 10055’ – 11047’20” vĩ độ Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 180 km tại Bảo Lộc.[2] Chiều dài của sông từ thượng nguồn đến chỗ hợp lưu với sông Đồng Nai khoảng 210 km. Cách Trị An khoảng 38 km về phía thượng nguồn.
Lưu vực sông La Ngà chảy qua các địa bàn: - Bảo Lộc, Bảo Lâm và một phần Di Linh thuộc tỉnh Lâm Đồng. - Tánh Linh, Đức Linh và một phần Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam thuộc tỉnh Bình Thuận. - Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Long Khánh và một phần Thống Nhất thuộc tỉnh Đồng Nai. 1: Bản đồ lưu vực sông La Ngà 1.2 Địa hình Do chịu nhiều biến động kiến tạo địa chất trong khu vực nên lưu vực sông La Ngà có địa hình rất phức tạp, bị phân cắt nhiều.
2 Bản đồ địa hình lưu vực sông La Ngà Toàn lưu vực có thể chia thành 3 vùng mang đặc điểm địa hình và sắc thái khí hậu tương đối khác nhau.1 Vùng thượng lưu Từ thượng nguồn đến công trình Hàm Thuận có diện tích khoảng 1.280km2, chiếm 31% diện tích toàn lưu vực. Đây là vùng cao nguyên, đại bộ phận đất đai có độ 6 cao từ 700 – 900 mét so với mực nước biển với địa hình đặc trưng là đồi bát úp và là vùng trọng điểm cây công nghiệp dài ngày trong lưu vực.2 Vùng trung lưu Từ công trình Hàm Thuận đến Tà Pao có diện tích khoảng 720 km2, chiếm khoảng 18% diện tích toàn lưu vực, được xem là trung lưu của lưu vực sông. Đây là vùng chuyển tiếp từ cao nghuyên xuống đồng bằng trung du với địa hình đặc trưng là núi dốc, đất đai chủ yếu là rừng núi hiểm trở và là vùng thuận lợi bố trí các công trình khai thác thủy năng, thủy điện trong lưu vực.3 Vùng hạ lưu Vùng hạ lưu được tính từ sau Tà Pao có diện tích 2.100km2, chiếm khoảng 51% diện tích toàn lưu vực với địa hình đặc trưng là dạng đồi lượn sóng và đồng bằng lòng chảo. Địa hình đồi lượn sóng phân bố chủ yếu ở huyện Tánh Linh, Đức Linh thuộc thượng lưu các suối Lăng Quăng, Gia Huynh có độ cao từ 120-150 mét và ở huyện: Tân Phú, Định Quán, Long Khánh, Xuân Lộc, Thống Nhất có độ cao từ 80-140 mét.
Dạng địa hình đồng bằng lòng chảo phân bố chủ yếu dọc hai bê sông La Ngà từ Tà Pao đến Võ Đắt có độ cao địa hình từ 105-120 mét. Vùng hạ lưu là vùng trọng điểm cây lương thực và cây công nghiêp ngắn ngày trong lưu vực.3 Sông ngòi Một phần do đặc điểm địa hình lưu vực là tương đối phức nên sông ngòi lưu vực sông La Ngà cũng khá phức tạp. 3 Bản đồ sông ngòi lưu vực sông La Ngà 7 Sông ngòi được chia làm ba đoạn chảy trên 3 vùng địa hình tương ứng khác nhau.1 Đọạn thượng nguồn Sông được hình thành từ hai nhánh chính Đargna đến Đariam bắt nguồn từ vùng núi cao Bảo Lộc và Di Linh có độ cao từ 1.600 m so với mực nước biển. Hai nhánh này gặp nhau trên suối Đại Bình khoảng 4 km về thượng nguồn, sau đó sông chảy qua vùng đồi bát úp theo hướng TB-ĐN.
Trong đoạn sông này địa hình bị phân cắt nhiều nên có nhiều sông suối nhỏ đổ vào như: - Trên nhánh Đariam: có suối DaTrouKee, BobLa, DarNeu, và DakaNan. - Trên nhánh Dargna: có các suối DasreDong, DaNos, Darium, DakLong, DaNour. - Sau hợp lưu Dargna và Dariam có suối Đại Bình, Da Trăng, DasRăng, DarBao, Dato và Datro. - Hầu hết sông suối ở vùng này ngắn, nhiều nhánh, có độ dốc lớn.2 Đoạn trung lưu Sông được chuyển hướng từ TB-ĐN sang ĐB-TN chảy qua vùng núi dốc hiểm trở.
Điểm nổi bật trên đoạn sông này là lòng sông dốc, gồ ghề có nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết, thời gian tập trung nước nhanh. Các sông suối nhỏ đổ vào dòng chính đoạn trung lưu gồm suối Daprass, Dami bờ phải và Darpou, Darsas, Saloun bờ trái.3 Đoạn hạ lưu Sông chảy uốn khúc hình chảy S với trục chính theo hướng Đông-Tây. Đoạn sông này chia làm hai phần: - Phần đầu hạ lưu từ Tà Pao đến thác Võ Đắt, sông chảy qua vùng đồng bằng trũng dạng lòng chảo. Điểm nổi bật đoạn đầu hạ lưu sông chảy ngoằn quèo, uốn khúc, hai bên bờ sông có nhiều khu trũng thấp, đầm lầy mùa lũ thường bị ngập úng tạo ra các khu chứa chậm lũ tự nhiên, điển hình là khu chứa Biển Lạc.
- Phần cuối hạ lưu từ thác Võ Đắt đến hợp lưu dòng chảy chính sông Đồng Nai, sông chảy qua vùng đồi lượn sóng. Sông suối nhỏ ở hạ lưu cũng phát triển khá mạnh với các sông suối nhỏ nhất bao gồm các suối Các, Lăng Quăng, Gia 8 Huynh, suối Rết, suối Tam Bung ở bờ trái và suối Lập Lài, Ráp Răng, DamRin, Daplon, DarHool, DarKaya, Trà My ở bờ phải. Tóm lại, mang lưới sông suối ở lưu vực sông La Ngà phát triển khá dày đặc, nhất là ở thượng lưu. Lượng dòng chảy vào mùa mưa trên các sông suối rất dồi dào nhưng đến mùa khô vào các tháng 2, 3, 4 thượng dòng chảy rất nhỏ.
Từ các sông suối lớn, hầu hết các suối nhỏ trong lưu vực, đặc biệt ở hạ lưu vào mùa khô không có nước.1 Mạng lưới quan trắc Nhìn chung, mạng lưới trạm quan trắc các yếu tố khí tượng trên lưu vực sông La Ngà và vùng xung quanh khá nhiều. Tuy nhiên, hầu hết các trạm quan trắc lượng mưa, trạm quan trắc các yếu tố như nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí…còn ít. Thời gian đo đạc của các trạm cũng không đồng bộ, gián đoạn và một số trạm không còn hoạt động. Do vậy, để đánh giá tổng quan các đặc trưng khí tượng trên lưu vực chỉ có một số trạm được lựa chọn để tính toán.
4: Mạng lưới quan trắc mưa trên lưu vực sông La Ngà 1.2 Đặc điểm khí hậu Nhìn chung thì toàn bộ lưu vực chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa. Một phần do vị trí lưu vực nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên và 9 Nam Bộ nên nhìn chung vùng thượng lưu có khí hậu mang sắc thái vùng Nam Tây Nguyên, vùng hạ lưu có khí hậu nhiều nét giống vùng Nam Bộ, có nền nhiệt độ thấp hơn, lượng mưa cao, đất đai khá màu mỡ, thực vật tự nhiên với thảm rừng xanh lá nhiệt đới lạnh ẩm, cây trồng nông nghiệp phát triển tương đối tốt. Đặc trưng nổi bật ở lưu vực sông La Ngà là có sự phân hóa chế độ khí hậu thành 2 mùa tương phản: mùa mưa và mùa khô.1Mạng lưới quan trắc So với các trạm khí tượng, các trạm quan trắc các trạm quan trắc các yếu tố thủy văn hầu như ở tất cả các lưu vực sông đều rất ít. Trên lưu vực sông La Ngà chỉ có ba trạm đo lưu lượng đó là trạm Đại Nga ở vùng thượng lưu, trạm Tà Pao ở trung lưu và trạm Phú Điền ở vùng gần phía hạ lưu.2 Dòng chảy thường xuyên Đặc điểm dòng chảy lưu vực sông La Ngà biến đổi khá phức tạp, vào mùa mưa thường xuất hiện lũ ở thượng lưu và ngập úng ở hạ lưu sông.
Do địa hình chi phối cao, hướng chảy của lưu vực rất phức tạp. Khoảng 100km kể từ nguồn, lưu vực có dạng lá cây, dòng chính chảy theo hướng gần như từ Bắc xuống Nam, 30km tiếp theo tới Tà Pao chảy hướng tây nam, 25km tiếp theo chảy theo hướng Tây Bắc (đoạn từ ranh giới giữa Đồng Nai và Bình Thuận), về tới Suối Gia Huynh dài khoảng 30km sông chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam. Từ đoạn này đến chổ nhập lưu với sông Đồng Nai còn khoảng 20km, hướng chảy là Tây Bắc, có đoạn gần như từ Nam đến Bắc. Đặc biệt, đoạn từ ranh giới giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận về tới Đồng Hiệp, sông chảy uốn khúc quanh co.
Tuy nhiên, dòng chảy trên lưu vực sông La Ngà thuộc loại khá. Tổng lượng hàng năm vào khoảng 4. Dòng chảy được hình hình bởi mưa nên sự phân bố dòng chảy cũng biến đổi theo không gian và thời gian tương ứng với sự biến đổi của mưa.3 Dòng chảy lũ Lũ trên lưu vực chủ yếu sinh ra do các trận mưa dông nhiệt có tổng lượng mưa từ 50-150mm/ngày. Dạng mưa này rất xảy ra đồng thời trên diện rộng nên lũ hàng năm trên lưu vực nhìn chung giảm, ít nguy hiểm.
10 Do địa hình có độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác nên tuy lũ nhỏ nhưng thời gian tập trung lũ rất nhanh dễ sinh ra những con lũ quét. Thời gian truyền lũ từ Đại Nga có độ cao 850m đến Tà Pao có độ cao 110m với chiều dài sông 85 km khoảng 10-12 giờ với tốc độ lan truyền lũ từ 2 – 2. Đoạn từ Tà Pao đến Võ Đắt độ dốc nhỏ nên thời gian truyền lũ trung bình khoảng 18 giờ với tốc độ lan truyền là từ 1-1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI 1.1 Đặc điểm xã hội Lưu vực La Ngà bao gồm 10 huyện và thị xã của 3 tỉnh: Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Thuận với 96 xã, phường và thị trấn. 1: Các đơn vị hành chính và số dân thuộc lưu vực sông La Ngà STT Tỉnh Huyện Diện tích tự nhiên (km2) 1 Lâm Đồng Bảo Lộc 168.46311 1 Bình Hàm Thuận 421.03 2 Thuận Bắc Hàm Thuận 43.33 Nam Tánh Linh 794.61 1 Đồng Nai Tân Phú 163.03 Long Khánh 84.51 Dân cư tập trung phân bố ở thượng lưu và hạ lưu, tập trung đông ở các thị trấn, dọc các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ.
Ở vùng hạ lưu, nơi có địa hình thấp hàng năm thường bị ngập úng nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống người dân. Dân cư trong lưu vực sống chủ yếu dực vào ngành nông nghiệp nhưng do tình trạng ngập úng 11 thường xảy ra cộng với việc điều kiện canh tác gặp nhiều khó khăn nên phần lớn diện tích gieo trồng dựa vào điều kiện tự nhiên, vì thế cho năng suất không cao, gặp nhiều bấp bênh.