Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu chi phối toàn bộ hoạt động dân sinh, kinh tế và môi trường sinh thái. Mặc dù Việt Nam tiếp nhận lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.900 mm (tương đương 634 tỷ m³ nước, trong đó lượng dòng chảy mặt chiếm khoảng 316 tỷ m³ với hệ số dòng chảy 0,5), nhưng nguồn nước lại phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian. Thực trạng này dẫn đến hiện tượng lũ lụt, ngập úng vào mùa mưa và khô hạn kéo dài vào mùa kiệt tại nhiều lưu vực sông.
Lưu vực sông La Ngà là phụ lưu lớn nhất bên bờ tả ngạn sông Đồng Nai, có diện tích lưu vực khoảng 4.010 km² và chiều dài dòng chính khoảng 210 km (tổng chiều dài dòng chảy tính cả các đoạn quanh co đạt khoảng 299 km). Sông bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh (tỉnh Lâm Đồng) ở độ cao trên 1.000 m, chảy qua địa bàn ba tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai trước khi nhập lưu vào hồ Trị An. Đây là khu vực tập trung nhiều cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đồng thời là vùng sản xuất nông nghiệp phát triển với các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm và cây lương thực. Tuy nhiên, tình trạng khai thác và quản lý tài nguyên nước tại lưu vực còn thiếu đồng bộ; sự gia tăng dân số cùng sự phát triển kinh tế làm mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng nước và lượng nước đến ngày càng gay gắt, đặc biệt là tình trạng thiếu nước cục bộ vào mùa kiệt.
Trước yêu cầu cấp thiết về việc phân bổ nguồn nước hợp lý, đồ án tốt nghiệp "Ứng dụng mô hình WEAP tính toán cân bằng nước trên lưu vực sông La Ngà" được thực hiện bởi tác giả Huỳnh Thị Mỹ Chi (chuyên ngành Khí tượng – Thủy văn, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, năm 2017) nhằm thiết lập cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, khai thác và sử dụng bền vững nguồn nước trên lưu vực.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đồ án được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu 1: Tính toán dòng chảy đến tại các tiểu vùng trong lưu vực sông La Ngà.
- Mục tiêu 2: Tính toán nhu cầu dùng nước tại các tiểu vùng.
- Mục tiêu 3: Tính toán cân bằng nước cho lưu vực sông La Ngà.
Nội dung nghiên cứu gắn liền với 3 mục tiêu trên bao gồm: thu thập và xử lý số liệu khí tượng - thủy văn; thiết lập và hiệu chỉnh mô hình HEC-HMS để mô phỏng dòng chảy đến; tính toán nhu cầu sử dụng nước cho các ngành chính (sinh hoạt, nông nghiệp, chăn nuôi, công nghiệp); ứng dụng mô hình WEAP để mô phỏng bài toán cân bằng nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên dòng chảy mặt và nhu cầu sử dụng nước của các ngành kinh tế - xã hội trên lưu vực sông La Ngà.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lưu vực sông La Ngà trải dài trong tọa độ 107°09’20” – 108°10’ kinh độ Đông và 10°55’ – 11°47’20” vĩ độ Bắc, bao gồm 10 huyện/thị xã thuộc ba tỉnh Lâm Đồng (Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh), Bình Thuận (Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam) và Đồng Nai (Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Long Khánh, Thống Nhất).
- Phạm vi thời gian và tài liệu: Chuỗi số liệu khí tượng thủy văn quan trắc giai đoạn 1980–2012 (33 năm); kiểm định mô hình thủy văn vào năm 1995; tính toán cân bằng nước hiện trạng lấy mốc năm 2015.
- Giới hạn nghiên cứu: Đồ án tập trung tính toán cân bằng nước mặt, không tính đến lượng nước ngầm và sự tham gia điều tiết của các hồ chứa nhân tạo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Đồ án tiếp cận bài toán cân bằng nước hệ thống dựa trên nguyên lý bảo toàn khối lượng giữa lượng nước đến (mưa, dòng chảy mặt, dòng hồi quy) và lượng nước đi (bốc thoát hơi, ngấm sâu, lượng cấp cho các hộ tiêu thụ và dòng chảy ra khỏi lưu vực).
Khung công cụ và mô hình tính toán:
- Phần mềm ArcGIS: Ứng dụng xử lý mô hình số độ cao DEM độ phân giải 30 m từ nguồn vệ tinh (EarthExplorer) nhằm chiết tách mạng lưới thủy văn, xác định ranh giới lưu vực, chia lưu vực thành 7 tiểu lưu vực phụ và trích xuất các thông số hình thái hình học làm đầu vào cho mô hình thủy văn.
- Mô hình thủy văn HEC-HMS (Hydrologic Engineering Center - Hydrologic Modeling System, phiên bản 3.0): Mô hình thông số tập trung dùng để mô phỏng quá trình mưa - dòng chảy. Thành phần tổn thất thấm được tính theo phương pháp số đường cong SCS (SCS Curve Number) với các thông số $CN$, lượng trữ mặt đệm $S$ và tổn thất ban đầu $I_a$. Thành phần chuyển đổi dòng chảy mặt sử dụng phương pháp đường quá trình đơn vị tổng hợp Clark (thông số thời gian tập trung nước $t_c$ và hệ số trữ $R$). Quá trình diễn toán dòng chảy trong sông sử dụng phương pháp Muskingum (thông số thời gian truyền lũ $K$ và trọng số $X$).
- Mô hình WEAP (Water Evaluation and Planning System): Xây dựng sơ đồ mạng lưới bao gồm các nhánh sông (River), các nút nhu cầu (Demand Sites), các liên kết cấp nước (Transmission Links), dòng hồi quy (Return Flows) và yêu cầu dòng chảy môi trường (Environmental Flow Requirements) theo 5 khung nhìn: Schematic, Data, Results, Scenario Explorer, Notes.
- Tiêu chuẩn và định mức tính toán: Tiêu chuẩn thiết kế TCXDVN 35-85 áp dụng cho cấp nước sinh hoạt; định mức cấp nước chăn nuôi; định mức tưới cho các loại cây trồng theo thời vụ canh tác; định mức cấp nước công nghiệp (65 m³/ha/ngày cho năm 2015 và 70 m³/ha/ngày định hướng năm 2020); tiêu chuẩn dòng chảy môi trường được lựa chọn bằng 10% tổng nhu cầu nước của các ngành trên mỗi tiểu vùng.
Phương pháp nghiên cứu thực tế đã sử dụng:
- Phương pháp thống kê thủy văn: Xây dựng đường tần suất kinh nghiệm theo công thức $P = \frac{m}{n+1}$ và đường tần suất lý luận (phối hợp hệ số dòng chảy $C_v$, hệ số thiên lệch $C_s$) để xác định lượng mưa thiết kế tần suất $P = 85%$ (năm khô điển hình). Phân chia mùa mưa và mùa khô dựa trên chỉ tiêu lượng mưa bình quân tháng nhiều năm so với lượng mưa trung bình năm ($P(X_i \ge X_o) > 50%$). Phương pháp thu phóng hai tỷ số ($K_1$ cho mùa khô, $K_2$ cho mùa mưa) được dùng để phân phối lượng mưa năm thiết kế thành lượng mưa từng tháng.
- Phương pháp đa giác Thiessen: Tính toán trọng số mưa đại biểu của các trạm đo đối với từng tiểu lưu vực.
- Phương pháp mô hình hóa toán học: Kết hợp chuỗi công cụ ArcGIS $\rightarrow$ HEC-HMS $\rightarrow$ WEAP để tính toán dòng chảy đến và mô phỏng cân bằng cung - cầu nước.
Nguồn dữ liệu đầu vào:
- Chuỗi số liệu lượng mưa ngày từ năm 1980 đến 2012 tại 5 trạm quan trắc: Bảo Lộc, Đại Nga, Di Linh, Tà Pao, Xuân Lộc.
- Chuỗi số liệu lưu lượng ngày giai đoạn 1980–2012 tại trạm thủy văn Tà Pao.
- Bản đồ số độ cao DEM 30 m tải từ trang EarthExplorer.
- Số liệu thống kê năm 2015 về dân số đô thị, dân số nông thôn, diện tích đất công nghiệp, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm và lâu năm, số lượng đàn gia súc - gia cầm thuộc 10 huyện trong lưu vực.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ
Chương I phân tích toàn diện các yếu tố tự nhiên, mạng lưới sông ngòi, khí hậu và bức tranh kinh tế - xã hội của lưu vực nghiên cứu. Địa hình lưu vực có tính phân cắt phức tạp do biến động kiến tạo, được phân định thành 3 vùng đặc trưng:
- Vùng thượng lưu (từ thượng nguồn đến công trình Hàm Thuận): Diện tích khoảng 1.280 km² (chiếm 31% diện tích lưu vực), độ cao phổ biến từ 700 đến 900 m, địa hình đồi bát úp, là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp dài ngày.
- Vùng trung lưu (từ Hàm Thuận đến Tà Pao): Diện tích khoảng 720 km² (chiếm 18% diện tích lưu vực), địa hình đồi núi dốc hiểm trở, lòng dẫn dốc và nhiều thác ghềnh, phù hợp bố trí công trình thủy năng.
- Vùng hạ lưu (từ sau Tà Pao đến ngã ba nhập lưu sông Đồng Nai): Diện tích khoảng 2.100 km² (chiếm 51% diện tích lưu vực), đặc trưng bởi địa hình đồi lượn sóng (cao độ 80–150 m) và vùng đồng bằng lòng chảo (cao độ 105–120 m). Vùng này thường xuyên bị ngập úng vào mùa lũ, tạo nên các vùng chậm lũ tự nhiên như Biển Lạc, là vùng trọng điểm sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày.
Mạng lưới sông ngòi phát triển dày đặc ở thượng nguồn với hai nhánh chính là Đargna và Đariam (hợp lưu tại suối Đại Bình). Toàn lưu vực chỉ có 3 trạm quan trắc lưu lượng thủy văn gồm: trạm Đại Nga (thượng lưu), trạm Tà Pao (trung lưu) và trạm Phú Điền (hạ lưu). Chế độ lũ tập trung nhanh do sườn dốc lớn, thời gian truyền lũ từ Đại Nga về Tà Pao (dài 85 km) chỉ mất 10–12 giờ với tốc độ truyền lũ 2,0–2,5 m/s; đoạn Tà Pao đến Võ Đắt mất khoảng 18 giờ với tốc độ 1,0–1,5 m/s.
Về kinh tế - xã hội, lưu vực bao gồm 96 xã, phường, thị trấn thuộc 10 huyện, thị xã. Hoạt động nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo: vùng thượng lưu có 65.453 ha đất nông nghiệp (trong đó 46.426,3 ha chuyên canh cà phê, trà, dâu tằm, chiếm 86,5%); vùng hạ lưu canh tác lúa nước, hoa màu và cao su. Đất lâm nghiệp chiếm 172.607 ha (khoảng 42% diện tích lưu vực), tuy nhiên tình trạng lấn chiếm và phá rừng nghiêm trọng đã làm mất khoảng 50.000 ha rừng (tập trung tại Di Linh 15.000 ha, Bảo Lâm 13.000 ha, Tánh Linh 12.000 ha, Tân Phú và Định Quán 5.000 ha). Về công nghiệp, khu vực phát triển chế biến nông - lâm sản với 6 nhà máy trà quốc doanh (công suất 195 tấn búp tươi/ngày), 17 cơ sở tơ tằm Bảo Lộc (920 tấn tơ và 1 triệu mét lụa/năm), Nhà máy đường La Ngà và mỏ khai thác bô xít Bảo Lộc.
CHƯƠNG II: TÍNH TOÁN DÒNG CHẢY ĐẾN LƯU VỰC SÔNG BẰNG MÔ HÌNH HEC-HMS
Chương II tập trung xử lý dữ liệu không gian, tính toán các đặc trưng mưa thiết kế và mô phỏng dòng chảy lũ, dòng chảy đến lưu vực thông qua mô hình HEC-HMS.
Sử dụng phần mềm ArcGIS để xử lý mô hình số độ cao DEM 30 m, tác giả đã khoanh vẽ mạng lưới sông suối và chia lưu vực sông La Ngà thành 7 tiểu vùng với tổng diện tích tính toán mô phỏng là 3.910 km² (khớp tương đối với diện tích tự nhiên 4.010 km²). Kết quả phân chia diện tích 7 vùng được chuyển đổi trực tiếp sang cấu trúc mô hình HEC-HMS.
| Tiểu vùng |
Vùng 1 |
Vùng 2 |
Vùng 3 |
Vùng 4 |
Vùng 5 |
Vùng 6 |
Vùng 7 |
Tổng diện tích |
| Diện tích (km²) |
363,83 |
396,42 |
412,15 |
608,12 |
754,20 |
621,18 |
754,10 |
3.910,00 |
Phân tích chuỗi số liệu mưa 33 năm (1980–2012) tại 5 trạm cho thấy quy luật phân hóa mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng VII đến tháng XI, mùa khô kéo dài từ tháng XII đến tháng VI năm sau. Lượng mưa năm và mùa khô thiết kế ứng với tần suất $P = 85%$ được xác định thông qua đường tần suất lý luận:
| Thông số thống kê |
Trạm Bảo Lộc |
Trạm Đại Nga |
Trạm Di Linh |
Trạm Tà Pao |
Trạm Xuân Lộc |
| Mưa bình quân năm $\bar{X}$ (mm) |
2.785,4 |
2.431,2 |
2.215,6 |
2.450,8 |
1.956,2 |
| Hệ số biến sai $C_v$ (năm) |
0,18 |
0,21 |
0,20 |
0,23 |
0,25 |
| Tỷ số $C_s / C_v$ (năm) |
1 |
2 |
3 |
1 |
2 |
| Hệ số $K_{p, 85%}$ (năm) |
0,81 |
0,78 |
0,79 |
0,76 |
0,74 |
| Lượng mưa năm $X_{85%}$ (mm) |
2.256,2 |
1.896,3 |
1.750,3 |
1.862,6 |
1.447,6 |
| Mưa mùa khô $\bar{X}_k$ (mm) |
425,1 |
382,4 |
354,2 |
312,5 |
245,6 |
| Hệ số $C_v$ (mùa khô) |
0,38 |
0,41 |
0,39 |
0,45 |
0,48 |
| Lượng mưa khô $X_{k, 85%}$ (mm) |
263,5 |
225,6 |
212,5 |
175,0 |
132,6 |
(Ghi chú: Số liệu trong bảng được trích từ các bảng tính toán tần suất và hệ số tương ứng trong báo cáo).
Sau khi phân phối mưa tháng bằng phương pháp thu phóng hai tỷ số ($K_1, K_2$) và tính trọng số diện tích Thiessen, mô hình HEC-HMS được thiết lập với các thông số: độ thấm ban đầu $I_a$, tỷ lệ diện tích không thấm $Imp$ (từ 1% đến 10%), thời gian trễ $t_c$ và hệ số trữ $R = C \times t_c$ (với hệ số $C = 2 \div 2,5$).
Kết quả đánh giá độ chính xác mô phỏng dòng chảy qua hệ số Nash-Sutcliffe ($E_{Nash}$) tại trạm Tà Pao:
- Chạy khởi tạo ban đầu: $E_{Nash} = 0,34$ (đỉnh lũ tính toán thấp hơn thực tế và xuất hiện chậm pha).
- Sau khi hiệu chỉnh thông số: $E_{Nash} = 0,72$ (dạng đường quá trình và lưu lượng đỉnh lũ khớp tốt với thực đo).
- Chạy kiểm định với số liệu năm 1995: $E_{Nash} = 0,70$.
Chuỗi lưu lượng mô phỏng từ HEC-HMS đáp ứng độ tin cậy để làm dữ liệu biên đầu vào cho mô hình WEAP.
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH WEAP VÀO BÀI TOÁN CÂN BẰNG NƯỚC CHO LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ
Chương III trình bày việc xây dựng cấu trúc mô hình cân bằng nước WEAP cho năm hiện trạng 2015. Dựa trên đặc điểm địa hình, hệ thống công trình và ranh giới hành chính, lưu vực được phân chia thành 3 vùng cân bằng nước tương ứng với 3 nút tính toán:
- Vùng 1 - Nút Hàm Thuận: Khu vực thượng lưu sông La Ngà.
- Vùng 2 - Nút Tà Pao: Khu vực trung lưu sông La Ngà.
- Vùng 3 - Nút Võ Đắt: Khu vực hạ lưu sông La Ngà.
Nhu cầu sử dụng nước được tính toán chi tiết cho 4 đối tượng dùng nước chính theo các định mức kỹ thuật quy định:
- Nước sinh hoạt: Áp dụng TCXDVN 35-85 với chỉ tiêu 200 lít/người/ngày cho dân số thành thị và 150 lít/người/ngày cho dân số nông thôn.
- Nước chăn nuôi: Định mức cho trâu và bò là 135 lít/con/ngày (gồm nước uống 20 lít, vệ sinh 65 lít, làm mát môi trường 50 lít); lợn là 60 lít/con/ngày; gia cầm là 11 lít/con/ngày; gia súc khác là 50 lít/con/ngày.
- Nước nông nghiệp: Định mức tưới cho lúa Đông Xuân (3.500–4.000 m³/ha, hệ số tưới lớn nhất 1,16 l/s/ha); lúa Hè Thu và lúa Mùa (5.000–5.500 m³/ha, hệ số tưới 1,46 l/s/ha); hoa màu và cây ngắn ngày (2.000 m³/ha, hệ số tưới 0,35 l/s/ha); cây công nghiệp lâu năm (3.500–4.000 m³/ha).
- Nước công nghiệp: Tính theo suất dùng nước 65 m³/ha/ngày theo hiện trạng năm 2015.
- Dòng chảy môi trường: Thiết lập bằng 10% tổng nhu cầu nước của các ngành tại mỗi nút lưu vực.
Số liệu hiện trạng sử dụng đất và dân sinh kinh tế năm 2015 đưa vào mô hình WEAP tại 3 vùng cân bằng:
| Chỉ tiêu thống kê |
Đơn vị |
Vùng 1 (Hàm Thuận) |
Vùng 2 (Tà Pao) |
Vùng 3 (Võ Đắt) |
| Dân số thành thị |
Người |
83.158 |
13.074 |
34.373 |
| Dân số nông thôn |
Người |
129.963 |
66.899 |
141.949 |
| Diện tích đất công nghiệp |
ha |
360,53 |
0 |
53,00 |
| Lúa Đông Xuân vụ 1 |
ha |
719 |
658 |
9.859 |
| Lúa Hè Thu vụ 1 |
ha |
303 |
750 |
13.855 |
| Lúa Mùa vụ 1 |
ha |
615 |
832 |
12.235 |
| Lúa Đông Xuân vụ 2 |
ha |
270 |
180 |
9.446 |
| Lúa Hè Thu vụ 2 |
ha |
396 |
360 |
0 |
| Hoa màu mùa |
ha |
414 |
180 |
8.502 |
| Rau (Đông Xuân / Hè Thu / Mùa) |
ha |
57 / 57 / 57 |
3 / 3 / 3 |
379 / 379 / 379 |
| Cà phê / Tiêu |
ha |
63.955 |
959 |
2.419 |
| Cây ăn quả |
ha |
308 |
1.944 |
1.460 |
| Đàn trâu |
Con |
743 |
962 |
2.909 |
| Đàn bò |
Con |
9.452 |
8.536 |
22.394 |
| Đàn heo (lợn) |
Con |
53.493 |
30.841 |
365.040 |
| Đàn gia cầm |
Con |
933.635 |
499.944 |
4.211.130 |
Kết nối các nguồn cung dòng chảy từ mô hình HEC-HMS và mạng lưới tiêu thụ trên mô hình WEAP cho phép xác định khả năng cấp nước, tỷ lệ thỏa mãn nhu cầu và lượng nước thiếu hụt trong các tháng mùa kiệt năm 2015 cho từng tiểu vùng và từng ngành kinh tế.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính của nghiên cứu:
- Thiết lập thành công chuỗi mô phỏng kết nối ArcGIS $\rightarrow$ HEC-HMS $\rightarrow$ WEAP cho lưu vực sông La Ngà với diện tích mô phỏng 3.910 km².
- Kiểm định mô hình HEC-HMS đạt hệ số Nash-Sutcliffe $E_{Nash} = 0,72$ trong pha hiệu chỉnh và $E_{Nash} = 0,70$ trong pha kiểm định (năm 1995), chứng minh khả năng tái tạo tốt diễn biến dòng chảy thực tế tại trạm Tà Pao.
- Định lượng hóa toàn bộ nhu cầu dùng nước hiện trạng năm 2015 của 3 phân vùng (Hàm Thuận, Tà Pao, Võ Đắt) cho 4 nhóm ngành tiêu thụ chính kết hợp dòng chảy môi trường 10%.
- Xác định rõ hiện trạng phân bổ dòng chảy: nguồn nước dồi dào trong mùa lũ nhưng xảy ra hiện tượng thiếu hụt nước cục bộ vào các tháng cao điểm mùa khô (tháng II, III, IV), trong đó ngành nông nghiệp và sinh hoạt tại vùng hạ lưu chịu áp lực thiếu nước lớn nhất.
Giải pháp và kiến nghị đề xuất từ tác giả:
- Bảo vệ tài nguyên rừng: Quản lý nghiêm ngặt 172.607 ha đất lâm nghiệp hiện có, ngăn chặn tình trạng chặt phá 50.000 ha rừng tại các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Tánh Linh nhằm duy trì khả năng giữ nước, chống xói mòn và điều tiết dòng chảy kiệt.
- Điều phối nguồn nước: Quy hoạch khai thác tài nguyên nước tổng hợp trên toàn lưu vực, kết hợp điều tiết dòng chảy giữa thượng lưu và hạ lưu nhằm bảo đảm dòng chảy môi trường sau công trình.
- Hoàn thiện mạng lưới quan trắc: Bổ sung thêm các trạm quan trắc thủy văn và đo đạc khí tượng tự động, khắc phục sự thiếu hụt số liệu đo lưu lượng (hiện toàn lưu vực chỉ có 3 trạm thủy văn).
Đóng góp mới của đề tài:
- Khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu dòng chảy chi tiết tại các tiểu vùng không có trạm đo bằng cách ứng dụng mô hình bán phân bố HEC-HMS tạo dữ liệu đầu vào trực tiếp cho mô hình cân bằng nước WEAP.
- Cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về cân bằng cung - cầu nước mặt cho lưu vực sông La Ngà tại thời điểm năm 2015, làm tài liệu tham khảo cho công tác quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu chưa xét đến sự đóng góp của nguồn tài nguyên nước ngầm vào cán cân cung cấp nước chung của lưu vực.
- Mô hình cân bằng nước hiện trạng chưa tích hợp quy trình vận hành điều tiết chi tiết của các hồ chứa thủy điện, thủy lợi lớn trên lưu vực (như công trình Hàm Thuận - Đa Mi).
- Số liệu kiểm định thủy văn bị giới hạn tại một vị trí trạm Tà Pao do mạng lưới trạm quan trắc lưu lượng trên lưu vực còn thưa thớt; một số chuỗi số liệu mưa bị gián đoạn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tích hợp thêm mô đun nước ngầm và quy trình vận hành liên hồ chứa vào mô hình WEAP để mô phỏng chính xác hơn bức tranh điều phối nguồn nước.
- Xây dựng các kịch bản cân bằng nước tương lai gắn với biến đổi khí hậu và kịch bản phát triển kinh tế - xã hội đến các năm tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Đồ án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật tài nguyên nước, Quản lý tài nguyên và môi trường đang thực hiện đồ án, luận văn liên quan đến tính toán cân bằng nước lưu vực.
- Cán bộ kỹ thuật, chuyên viên tại các cơ quan quy hoạch thủy lợi, tài nguyên nước khu vực lưu vực sông Đồng Nai và các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai.
Các nội dung đáng tham khảo trong tài liệu:
- Trình tự ghép nối kỹ thuật giữa phần mềm GIS (ArcGIS) để tiền xử lý DEM sang mô hình thủy văn HEC-HMS và chuyển tiếp vào mô hình quản lý tài nguyên nước WEAP.
- Phương pháp tính toán thủy văn thiết kế: quy trình vẽ đường tần suất lý luận tính mưa $P = 85%$ và kỹ thuật phân phối mưa năm thiết kế theo phương pháp thu phóng hai tỷ số ($K_1, K_2$).
- Hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết về định mức dùng nước sinh hoạt, gia súc, cây trồng và diện tích canh tác thực tế năm 2015 của các huyện thuộc lưu vực sông La Ngà.
Câu hỏi thường gặp
1. Đồ án sử dụng mô hình nào để tính toán dòng chảy đến lưu vực sông La Ngà và mức độ chính xác đạt được là bao nhiêu?
Tác giả sử dụng mô hình thủy văn HEC-HMS (phiên bản 3.0) kết hợp xử lý dữ liệu địa hình DEM 30 m trên ArcGIS. Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định tại trạm thủy văn Tà Pao với chuỗi số liệu giai đoạn 1980–2012; hệ số Nash-Sutcliffe ban đầu đạt 0,34, sau khi hiệu chỉnh đạt 0,72 và khi kiểm định với số liệu năm 1995 đạt 0,70.
2. Lưu vực sông La Ngà được chia thành bao nhiêu vùng trong bài toán cân bằng nước WEAP?
Trong mô hình WEAP, lưu vực được chia thành 3 vùng cân bằng nước chính tương ứng với 3 nút tính toán từ thượng lưu xuống hạ lưu: Vùng 1 (nút Hàm Thuận), Vùng 2 (nút Tà Pao) và Vùng 3 (nút Võ Đắt).
3. Tiêu chuẩn dòng chảy môi trường trên lưu vực sông La Ngà được lựa chọn theo nguyên tắc nào?
Văn bản đưa ra hai cách xác định dòng chảy môi trường (90–95% dòng chảy tháng kiệt nhất hoặc 10% tổng nhu cầu của các ngành trên mỗi tiểu lưu vực). Đồ án đã lựa chọn cách thứ hai: lấy dòng chảy môi trường bằng 10% tổng nhu cầu nước của các ngành tại mỗi tiểu vùng cân bằng.
4. Chuỗi số liệu khí tượng thủy văn được sử dụng trong đồ án lấy từ những trạm nào và trong khoảng thời gian bao lâu?
Đồ án sử dụng chuỗi số liệu quan trắc 33 năm (từ năm 1980 đến năm 2012) gồm số liệu mưa ngày tại 5 trạm: Bảo Lộc, Đại Nga, Di Linh, Tà Pao, Xuân Lộc và số liệu lưu lượng dòng chảy ngày tại trạm thủy văn Tà Pao.
5. Định mức dùng nước cho sinh hoạt và công nghiệp được đồ án áp dụng dựa trên cơ sở nào?
Định mức nước sinh hoạt áp dụng theo tiêu chuẩn TCXDVN 35-85 với mức 200 lít/người/ngày cho khu vực đô thị và 150 lít/người/ngày cho khu vực nông thôn. Định mức dùng nước công nghiệp được tính theo chỉ tiêu 65 m³/ha/ngày cho năm hiện trạng 2015.
Kết luận
Đồ án tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Thị Mỹ Chi đã ứng dụng thành công chuỗi công cụ mô hình hóa ArcGIS, HEC-HMS và WEAP để mô phỏng dòng chảy mặt và đánh giá cán cân cung - cầu nước trên lưu vực sông La Ngà mốc hiện trạng năm 2015. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự phân hóa sâu sắc của chế độ dòng chảy theo mùa, phản ánh tình trạng thiếu hụt nguồn nước mặt cục bộ trong các tháng mùa khô tại các tiểu vùng. Đây là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn phục vụ việc tham khảo phương pháp tính toán thủy văn và hỗ trợ định hướng quy hoạch phân bổ tài nguyên nước bền vững cho khu vực nghiên cứu.