Tổng quan về luận án
Bối cảnh toàn cầu hóa, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và môi trường truyền thông số đang biến không gian mạng thành mặt trận đấu tranh tư tưởng - lý luận (TT-LL) vô cùng phức tạp, gay gắt. Đối với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào), sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (NDCM Lào) đang đứng trước những thử thách sống còn từ âm mưu "diễn biến hòa bình", các hoạt động chống phá tinh vi kích động chia rẽ sắc tộc, tôn giáo và thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Trong trận địa này, hệ thống các nhà trường công an thuộc Bộ An ninh Lào giữ trọng trách đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, sĩ quan an ninh - lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (Mã số: 9 22 90 08) của nghiên cứu sinh Somphanh Sivongxay, thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Tuyết (Hà Nội, 2022), mang tính tiên phong khi lần đầu tiên giải quyết căn bản một research gap lớn: Chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào giải mã toàn diện bản chất, cấu trúc, cơ chế tác động và thực trạng của "tính tích cực chính trị" (Political Activism/Agency) trong đấu tranh tư tưởng - lý luận của đội ngũ giảng viên (ĐNGV) các nhà trường công an nước CHDCND Lào từ phương diện Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được xác lập:
- Research Question 1 (RQ1): Tính tích cực chính trị trong đấu tranh tư tưởng - lý luận của ĐNGV các trường công an Lào có cấu trúc lý luận, nội dung biểu hiện và các yếu tố cấu thành nào?
- Hypothesis 1 (H1): Tính tích cực chính trị trong đấu tranh TT-LL của ĐNGV là chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa nhận thức lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Cayxỏn Phômvihản, động cơ chính trị, năng lực chuyên môn và hành vi phản bác quan điểm thù địch.
- Research Question 2 (RQ2): Thực trạng tính tích cực chính trị của ĐNGV tại 4 cơ sở đào tạo trọng yếu của Bộ An ninh Lào (2011 - 2022) đạt được những thành tựu nào, tồn tại những hạn chế và điểm nghẽn gì?
- Hypothesis 2 (H2): Dù ĐNGV thể hiện sự kiên định lập trường chính trị cao, nhưng tính chủ động và năng lực thực chiến trong phê phán, đấu tranh trên không gian mạng và đổi mới phương pháp giảng dạy vẫn còn khoảng cách lớn so với yêu cầu thực tiễn.
- Research Question 3 (RQ3): Những giải pháp mang tính hệ thống và khả thi nào cần được triển khai để khơi thông và phát huy tối đa tính tích cực chính trị của ĐNGV công an Lào hiện nay?
Khung lý thuyết của công trình được định hình trên nền tảng triết học Mác - Lênin, lý luận đấu tranh giai cấp và hình thái kinh tế - xã hội, hệ tư tưởng Cayxỏn Phômvihản cùng các quan điểm Đại hội IX, X, XI của Đảng NDCM Lào. Phạm vi khảo sát thực nghiệm quy chuẩn bao trùm $N = 245$ giảng viên tại toàn bộ 4 cơ sở đào tạo nòng cốt của ngành an ninh Lào: Học viện An ninh Nhân dân ($n_1 = 78$), Học viện Cảnh sát Nhân dân ($n_2 = 82$), Trường Cao đẳng Lý luận, chính trị Công an ($n_3 = 44$) và Trường Cao đẳng Công an số 2 tỉnh Luông Pha Bang ($n_4 = 41$). Khung thời gian nghiên cứu tập trung từ năm 2011 (Đại hội IX Đảng NDCM Lào) đến năm 2022, cung cấp hệ dữ liệu chuẩn xác cho việc hoạch định chính sách xây dựng lực lượng an ninh Lào trong thời kỳ mới.
Literature Review và Positioning
Nghiên cứu tổng quan một khối lượng đồ sộ gồm 47 công trình khoa học tiêu biểu (30 công trình tại Việt Nam và 17 công trình tại CHDCND Lào), phân chia thành hai mạch tư tưởng học thuật chính:
Nhánh nghiên cứu thứ nhất: Về tính tích cực chính trị, lý luận bảo vệ nền tảng tư tưởng và đấu tranh tư tưởng - lý luận.
Tại Việt Nam, Chu Khắc (1987) đặt nền móng nghiên cứu tính tích cực chính trị - xã hội trong lối sống XHCN như một phẩm chất của con người mới giác ngộ lý tưởng; Nguyễn Thị Kim Hoa (2013) phân tích tính tích cực chính trị của công dân dưới tác động của hội nhập quốc tế; Đào Huy Toàn (2017) định lượng hóa tiêu chí tính tích cực chính trị của các tầng lớp xã hội. Về mặt trận đấu tranh lý luận, Đỗ Thị Thạch và Nguyễn Văn Quyết (2019), Đỗ Thị Thạch (2020) khai thác sâu sắc các luận điểm kinh điển của V.I. Lênin và Ph.Ăngghen trong việc vạch trần bản chất chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả khuynh; Nguyễn Duy Bắc (2020), Phạm Huy Kỳ (2020), Đinh Ngọc Giang (2021) cùng các kỷ yếu cấp quốc gia của Bộ Công an - Ban Tuyên giáo Trung ương - Hội đồng Lý luận Trung ương (2017, 2021) phân tích nhận diện các luận điệu xuyên tạc và quy trình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại Lào, các học giả như Phăn Đuông Chít Vông Sa (2002) phân tích công tác lý luận của Đảng NDCM Lào từ mốc đổi mới 1986; Sớm Súc Sim Pha Vông (2001), Mun Kẹo O La Bun (2003), Ban Chỉ đạo nghiên cứu Lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng NDCM Lào (2005) và Ku dang Sỉ Sổm Pông (2012) làm rõ tính cấp bách của công tác giáo dục chính trị tư tưởng nhằm ngăn chặn âm mưu làm lung lay chế độ.
Nhánh nghiên cứu thứ hai: Về vai trò và bản lĩnh của đội ngũ giảng viên lực lượng vũ trang trong đấu tranh tư tưởng.
Các công trình của Nguyễn Đình Bắc (2014), Học viện Chính trị Công an nhân dân (2015, 2017), Lê Anh Thơ và Nguyễn Sỹ Họa (2016), Nguyễn Văn Bạo (2016), Hoàng Anh và Đào Tuấn Anh (2017), Nguyễn Đình Trang (2017), Nguyễn Yến Thanh (2017), Bùi Trường Giang (2019), Trần Văn Phòng (2020) và Mai Đức Ngọc, Phạm Hương Trà (2021) đã phân tích sâu sắc bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và phương thức phòng, chống âm mưu "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang. Tại Lào, Chăn Sa Mon Chăn Nha Lạt (2003) và Phon Chay Khăm Bun My (2011) tập trung vào vai trò của lực lượng vũ trang Quân đội nhân dân Lào chống chiến lược "diễn biến hòa bình".
Những tranh luận học thuật và định vị khoảng trống nghiên cứu:
Tổng quan tài liệu chỉ ra sự tồn tại của hai luồng quan điểm đối lập trong tiếp cận tính tích cực chính trị:
- Trường phái tiếp cận cấu trúc - thiết chế (Structuralist Approach): Coi tính tích cực chính trị thuần túy là sự chấp hành nghĩa vụ công dân và kỷ luật tổ chức dưới sự định hướng tuyệt đối của Đảng và Nhà nước (nhấn mạnh yếu tố thể chế quản lý).
- Trường phái tiếp cận chủ thể - hành vi (Behavioral/Agency Approach): Coi tính tích cực chính trị là sự bộc lộ năng lực tự ý thức, sáng tạo nội sinh, động cơ tự thân và phản xạ tự giác của từng cá nhân trước các biến động xã hội.
Khoảng trống học thuật xác định: Đa số các công trình trước đây tại Lào chỉ tiếp cận công tác tư tưởng ở góc độ thụ động ("giáo dục một chiều"), chưa xây dựng được mô hình tích hợp giữa nhận thức - động cơ - hành vi của giảng viên an ninh với tư cách là chủ thể chiến đấu trực tiếp trên mặt trận lý luận.
So sánh quốc tế:
- Trường hợp Trung Quốc: Nghiên cứu của Nguyễn Minh Hoàn và Nguyễn Thị Thu Hường (2020) về kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ ra rằng bảo vệ nền tảng tư tưởng phải kết hợp giữa quản trị không gian mạng nghiêm ngặt bằng pháp chế, công nghệ giám sát dữ liệu lớn và đào tạo đội ngũ chuyên gia "hồng và chuyên" trực tiếp định hướng dư luận xã hội.
- Trường hợp Việt Nam: Mô hình triển khai Nghị quyết số 35-NQ/TW của Đảng Cộng sản Việt Nam kết hợp chặt chẽ giữa "xây" (tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) và "chống" (bẻ gãy luận điệu xuyên tạc, xử lý nghiêm phần tử suy thoái chính trị).
Luận án đã định vị chính xác vị trí học thuật khi chuyển hóa các bài học kinh nghiệm quốc tế vào đặc thù thể chế chính trị - văn hóa xã hội của nước CHDCND Lào, thiết lập khung phân tích chuyên biệt cho ĐNGV các trường công an Lào.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã kế thừa và làm sâu sắc thêm học thuyết Mác - Lênin về ý thức xã hội và nhận thức luận duy vật biện chứng. Luận án trích dẫn trực tiếp luận điểm kinh điển của V.I. Lênin: "Thế giới không thỏa mãn con người và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hoạt động của mình" (V.I. Lênin Toàn tập, t.29, tr.230) để chứng minh rằng tính tích cực chính trị là thuộc tính bản chất của ý thức cách mạng, chuyển hóa nhận thức lý luận thành hành động thực tiễn cải tạo thế giới.
Luận án đưa ra định nghĩa chuẩn xác về khái niệm: "Tính tích cực chính trị trong đấu tranh tư tưởng - lý luận được hiểu là toàn bộ những biểu hiện của sự tự giác, chủ động, sáng tạo trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của mỗi chủ thể vào quá trình đấu tranh tư tưởng - lý luận trên những cơ sở, điều kiện, nhiệm vụ và trách nhiệm chính trị của cá nhân nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng cầm quyền, chính sách, pháp luật của nhà nước mà các chủ thể đại diện và phục vụ".
Cấu trúc lý thuyết của tính tích cực chính trị được cụ thể hóa thành 5 mệnh đề/nội dung biểu hiện:
- Mệnh đề 1 ($P_1$): Mức độ hiểu biết sâu sắc, hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Cayxỏn Phômvihản, chủ trương của Đảng NDCM Lào và pháp luật Nhà nước Lào.
- Mệnh đề 2 ($P_2$): Mức độ quan tâm, giác ngộ mục đích chính trị của cuộc đấu tranh bảo vệ chế độ và an ninh quốc gia.
- Mệnh đề 3 ($P_3$): Mức độ chủ động tự bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn nghiệp vụ đấu tranh tư tưởng.
- Mệnh đề 4 ($P_4$): Mức độ chủ động, quyết liệt trong phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lồng ghép trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trên không gian truyền thông.
- Mệnh đề 5 ($P_5$): Mức độ hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ của người giảng viên công an nhân dân theo chuẩn mực quy định.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết: (1) Lý luận hình thái kinh tế - xã hội và đấu tranh giai cấp của Chủ nghĩa Mác - Lênin; (2) Lý thuyết xã hội học về tính tích cực xã hội (Social Activity Theory); (3) Tư tưởng Cayxỏn Phômvihản về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng.
Luận án xác lập 3 cấp độ phát triển của tính tích cực chính trị:
- Cấp độ 1: Tính tích cực mô phỏng - bắt chước (thực hiện theo chỉ thị, mệnh lệnh hành chính một cách thụ động).
- Cấp độ 2: Tính tích cực tìm kiếm - sử dụng (biết vận dụng lý luận vào bài giảng, chủ động tìm kiếm luận cứ phản bác).
- Cấp độ 3: Tính tích cực sáng tạo (cấp độ phát triển cao nhất, chủ động sản xuất các công trình khoa học sắc bén, sáng tạo phương thức đấu tranh trên không gian mạng và lan tỏa niềm tin lý tưởng).
Điều kiện biên (Boundary conditions) được xác định rõ: Khung phân tích này vận hành tối ưu trong môi trường thể chế chính trị nhất nguyên do Đảng Cộng sản lãnh đạo, tại các cơ sở giáo dục đào tạo lực lượng vũ trang đặc thù thuộc Bộ An ninh CHDCND Lào.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Marxist dialectical and historical materialism), kết hợp hài hòa triết học chính trị với phương pháp nghiên cứu liên ngành xã hội học và khoa học an ninh. Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp (Mixed-methods design), trong đó phân tích định tính văn kiện, nghị quyết của Đảng NDCM Lào kết hợp chặt chẽ với điều tra thực nghiệm định lượng xã hội học.
Thiết kế đa cấp độ (Multi-level design) được triển khai:
- Cấp độ vĩ mô: Bối cảnh chính trị - xã hội quốc tế và đường lối đổi mới của CHDCND Lào.
- Cấp độ trung mô: Thiết chế tổ chức, sự lãnh đạo của Đảng ủy Bộ An ninh và Ban Giám hiệu 4 trường công an.
- Cấp độ vi mô: Nhận thức, động cơ, tâm lý và hành vi thực tiễn của từng giảng viên công an.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy mô mẫu khảo sát được tính toán chuẩn xác dựa trên mô hình xác định kích thước mẫu ngẫu nhiên của Krejcie & Morgan (1970). Tổng số phiếu phát ra và thu về đạt tỷ lệ phản hồi $100%$ ($N = 245/245$ phiếu hợp lệ):
- Học viện An ninh Nhân dân: $78/78$ phiếu ($31.84%$).
- Học viện Cảnh sát Nhân dân: $82/82$ phiếu ($33.47%$).
- Trường Cao đẳng Lý luận, chính trị Công an: $44/44$ phiếu ($17.96%$).
- Trường Cao đẳng Công an số 2 tỉnh Luông Pha Bang: $41/41$ phiếu ($16.73%$).
Quy trình thu thập dữ liệu được tiến hành vào tháng 9 năm 2020 thông qua hai kênh đồng bộ: Bảng hỏi giấy trực tiếp tại cơ sở kết hợp biểu mẫu số hóa trực tuyến qua Google Forms (đường dẫn khảo sát: https://docs.com/forms/d/e/1FAIpQLSf2XZYy599tvv-ympnPSydj0-oO6U87YpjBWWBIRMh4C-rzLA/viewform).
Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation) được bảo đảm qua việc đối chiếu giữa: (1) Kết quả điều tra bảng hỏi $N=245$; (2) Báo cáo tổng kết công tác giáo dục đào tạo của Bộ An ninh Lào giai đoạn 2011 - 2020; (3) Quan sát thực tế và phân tích tài liệu thứ cấp từ 47 công trình nghiên cứu tiền nhiệm. Độ tin cậy thang đo đạt chuẩn Cronbach's Alpha ($\alpha > 0.82$ trên các nhóm biến quan sát), xác lập giá trị hội tụ và giá trị phân biệt vững chắc.
Data và phân tích
Đặc điểm mẫu nghiên cứu: ĐNGV được chuẩn hóa theo Điều 2 của Quy định về giảng viên giảng dạy tại các nhà trường công an thuộc Tổng cục Chính trị Bộ An ninh Lào (2017): "... công an viên thuộc biên chế của các nhà trường công an và là người đáp ứng được các yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ thuật và lý thuyết cũng như là người có quan điểm chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có đạo đức nghề nghiệp, có khả năng tập trung nghiên cứu và giảng dạy cũng như có sức khỏe tốt".
Dữ liệu được làm sạch và xử lý thông qua phần mềm thống kê chuyên ngành, sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê mô tả (Mean, Standard Deviation, Tần số %), so sánh trung bình (ANOVA, Independent Samples T-test) nhằm đánh giá sự khác biệt về mức độ tích cực chính trị theo độ tuổi, thâm niên giảng dạy, học vị và đơn vị công tác.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Thứ nhất, tính phân tầng rõ nét trong nhận thức và hành vi chính trị của ĐNGV: Kết quả khảo sát cho thấy mức độ nhận thức về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Cayxỏn Phômvihản đạt tỷ lệ đánh giá cao ($68.5%$ ở mức độ rất tốt và tốt). Tuy nhiên, có sự chênh lệch lớn giữa nhận thức lý thuyết và hành động thực tiễn: Tỷ lệ giảng viên chủ động tham gia viết bài báo khoa học đấu tranh phản bác trực tiếp các luận điệu sai trái, thù địch trên các tạp chí và không gian mạng chỉ đạt mức trung bình khá ($34.2%$).
Thứ hai, sự chuyển dịch về không gian đấu tranh tư tưởng: Phát hiện thực nghiệm chỉ ra không gian mạng (Facebook, YouTube, diễn đàn trực tuyến) đang là địa bàn chống phá trọng điểm của các thế lực phản động lưu vong chống phá Lào, nhưng ĐNGV các trường công an Lào chủ yếu vẫn đấu tranh qua phương thức truyền thống trên giảng đường ($76.4%$), mức độ làm chủ công nghệ và kỹ năng phản bác trên không gian truyền thông số còn hạn chế.
Thứ ba, sự thiếu hụt về cơ sở vật chất và tài liệu lý luận bằng tiếng Lào: Luận án chỉ rõ nguyên nhân khách quan của những hạn chế bắt nguồn từ việc thiếu hệ thống giáo trình, tài liệu chuyên khảo lý luận Mác - Lênin dịch thuật chuẩn xác sang tiếng Lào; kinh phí đầu tư cho các đề tài nghiên cứu khoa học chuyên sâu về bảo vệ nền tảng tư tưởng trong lực lượng an ninh còn khiêm tốn.
Thứ tư, nhận diện 4 vấn đề cấp bách đặt ra từ thực tiễn:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu đấu tranh tư tưởng quyết liệt, hiện đại với trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin của ĐNGV còn bất cập.
- Cơ chế phối hợp giữa các trường công an với các cơ quan an ninh tác chiến thực tế chưa đồng bộ.
- Chế độ đãi ngộ, tôn vinh và bảo vệ giảng viên tham gia mũi nhọn đấu tranh phản bác chưa đủ mạnh.
- Nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trước sự tấn công tư tưởng của các trào lưu thực dụng tư sản.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung vào kho tàng lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học hệ thống tiêu chí định lượng và định tính đánh giá tính tích cực chính trị của lực lượng vũ trang tại các quốc gia đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ khảo sát xã hội học chuẩn hóa có thể chuyển giao ứng dụng cho việc đánh giá cán bộ, giảng viên các trường chính trị, quân sự tại các nước có thể chế tương đồng.
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược cho Bộ An ninh Lào:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy Bộ An ninh và cấp ủy các nhà trường trong định hướng công tác tư tưởng.
- Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh dịch thuật các tác phẩm kinh điển Mác - Lênin sang tiếng Lào.
- Xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng chuyên trách trong các trường công an, đào tạo kỹ năng phản bác thông tin xấu độc trên mạng xã hội cho ĐNGV.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ, quy hoạch, bồi dưỡng và bảo vệ an toàn chính trị nội bộ cho ĐNGV.
Limitations và Future Research
Luận án thừa nhận một cách khách quan các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn mẫu: Nghiên cứu tập trung tại 4 cơ sở đào tạo nòng cốt của Bộ An ninh Lào ($N=245$), chưa bao quát toàn bộ các trung tâm huấn luyện công an địa phương ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa.
- Giới hạn thời gian: Dữ liệu định lượng phản ánh thực trạng tại thời điểm khảo sát tháng 9/2020 (giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và biến động chuyển đổi số nhanh chóng).
Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future Research Agenda):
- Mở rộng mô hình nghiên cứu so sánh đối sánh (Cross-comparative study) giữa ĐNGV các trường công an Lào và ĐNGV các trường quân đội Lào hoặc công an Việt Nam.
- Ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Modeling - SEM) để kiểm định sâu các tác động trung gian của biến môi trường số và văn hóa tổ chức đến hành vi đấu tranh tư tưởng.
- Nghiên cứu cơ chế tâm lý và hành vi chống lại tin giả (Fake news) và thao túng tâm lý trên không gian mạng đối với học viên công an trẻ tuổi.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo nền tảng tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện An ninh Nhân dân Việt Nam và các cơ sở nghiên cứu lý luận chính trị của Đảng NDCM Lào, mở ra nhánh nghiên cứu chuyên sâu về an ninh tư tưởng trong lực lượng vũ trang.
- Tác động chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp để Tổng cục Chính trị Bộ An ninh Lào ban hành các văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục lý luận chính trị và quy chế giảng viên trong tình hình mới.
- Lợi ích xã hội: Gián tiếp củng cố trận địa tư tưởng vững chắc, bảo vệ sự ổn định chính trị - trật tự an toàn xã hội, tạo tiền đề cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước Lào.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng: Tiếp cận một khung phân tích thực nghiệm mẫu mực về đánh giá tính tích cực chính trị.
- Ban Giám hiệu các học viện, trường công an, quân sự: Ứng dụng các nhóm giải pháp để chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng năng lực thực chiến cho giảng viên.
- Lãnh đạo Bộ An ninh, Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng NDCM Lào: Có được các luận cứ khoa học tin cậy để hoạch định chiến lược an ninh tư tưởng quốc gia.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng học thuyết Mác - Lênin về ý thức xã hội và tính tích cực xã hội, lần đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh khung lý thuyết 5 nội dung biểu hiện của tính tích cực chính trị trong đấu tranh tư tưởng - lý luận của ĐNGV công an Lào, phân cấp hóa từ mức độ mô phỏng đến sáng tạo.
-
Điểm mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?
Khác với các công trình nghiên cứu lý luận thuần túy trước đây tại Lào (như Phăn Đuông Chít Vông Sa 2002; Mun Kẹo O La Bun 2003), luận án tiên phong sử dụng thiết kế mixed-methods với khảo sát xã hội học quy chuẩn $N=245$ tại 4 trường công an theo mô hình chọn mẫu Krejcie & Morgan, kết hợp khảo sát trực tiếp và nền tảng Google Forms.
-
Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Sự phân tách giữa nhận thức lý tưởng chính trị (đạt mức tốt $68.5%$) và năng lực tác chiến lý luận thực tế trên không gian truyền thông số (chỉ đạt $34.2%$), vạch trần "điểm nghẽn" lớn nhất hiện nay là thiếu kỹ năng công nghệ và thiếu tài liệu lý luận chuẩn hóa bằng tiếng Lào.
-
Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án công khai chi tiết cấu trúc bảng hỏi, đường link khảo sát trực tuyến, mẫu phân bổ cụ thể theo từng trường, tiêu chuẩn chọn mẫu theo quy định Bộ An ninh 2017 và thang đo đánh giá, cho phép các nhà nghiên cứu tương lai tái lập hoàn toàn trên các nhóm đối tượng khác.
-
Chương trình nghiên cứu dài hạn trong 10 năm tới được phác thảo ra sao?
Tập trung nghiên cứu chuyển đổi số trong giáo dục an ninh tư tưởng, xây dựng mô hình phòng thí nghiệm mô phỏng đấu tranh chống chiến tranh mạng và thiết lập mạng lưới liên kết bảo vệ an ninh tư tưởng giữa các nước XHCN trong khu vực.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và phát triển toàn diện lý luận về tính tích cực chính trị trong đấu tranh tư tưởng - lý luận của ĐNGV các nhà trường công an nước CHDCND Lào.
- Xây dựng bộ tiêu chí khoa học gồm 5 nội dung biểu hiện và 3 cấp độ phát triển của tính tích cực chính trị, tạo bước tiến mới trong nhận thức luận mác-xít.
- Đánh giá khách quan, định lượng hóa thực trạng tại 4 học viện, nhà trường công an với mẫu $N=245$, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và 4 vấn đề cấp bách đặt ra.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với cơ chế thực thi của Bộ An ninh và Đảng NDCM Lào trong giai đoạn đổi mới.
- Mở ra các hướng nghiên cứu mới về an ninh phi truyền thống, an ninh tư tưởng trên không gian số tại các quốc gia XHCN.
- Đóng góp giá trị thực tiễn to lớn trong việc củng cố mối quan hệ hợp tác đặc biệt, chia sẻ kinh nghiệm lý luận và đào tạo cán bộ an ninh giữa hai nước Việt Nam và Lào.