Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Trong đó phần nội dung được kết cấu gồm 2 chương và 4 tiết. 14 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TÍNH THỰC TIỄN TRONG TƢ TƢỞNG CỦA NGUYỄN TRÃI 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, GIÁO DỤC VIỆT NAM THẾ KỶ XIV – XV DẪN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TÍNH THỰC TIỄN TRONG TƢ TƢỞNG CỦA NGUYỄN TRÃI Trong Hệ tư tưởng Đức, C.
Ăngghen đã khẳng định: “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên phải là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” (C.Ăngghen: Toàn tập, T. Sản xuất vật chất được xem là hành vi lịch sử đầu tiên của những con người hiện thực. Phương thức sản xuất vật chất không đơn thuần là tái sản xuất sự tồn tại thể xác của mỗi con người mà “nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” (C. Ăngghen: Toàn tập, T.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ rõ tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, song bên cạnh đó ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Trong tồn tại xã hội, phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, khoa học, nghệ thuật. sớm hay muộn cũng sẽ biến đổi theo. Trong những thời đại lịch sử khác nhau, những quan điểm, tư tưởng xã hội sẽ khác nhau, đó là do điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định nên.
Điều đó có nghĩa: Chúng ta không thể đi tìm nguồn gốc của ý thức, của tư tưởng trong chính bản thân của chính nó mà phải đi tìm ngay trong chính hiện thực vật chất và đời sống xã hội đó. Tính thực tiễn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng không ngoại lệ, nó được hình 15 thành xuất phát từ những điều kiện, tiền đề của thực tiễn Đại Việt thế kỷ XIV-XV. Điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XIV – XV dẫn đến sự hình thành tính thực tiễn trong tƣ tƣởng của Nguyễn Trãi Kinh tế được xem là yếu tố quan trọng quyết định sự suy vong hay phát triển của một quốc gia. Khi xem xét về một giai đoạn lịch sử, kinh tế được quan tâm hàng đầu vì nó phản ánh nhiều vấn đề của thực tiễn và nó là nguồn gốc của những điều kiện chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục.
Sau ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên giành thắng lợi, kinh tế nhà Trần bước vào thời kỳ ổn định và có những bước phát triển. Tuy nhiên, đến đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369), kinh tế nhà Trần bước vào giai đoạn suy thoái. Lúc bấy giờ, triều đình nhà Trần không còn quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, các công trình thủy lợi không được tu sửa dẫn đến nhiều lần xảy ra vỡ đê, lụt lớn, mất m a thường xuyên. Ngân khố quốc gia cạn kiệt, nhà Trần phải bán quan tước cho nhà giàu để có tiền hoạt động và tăng cường việc thu thuế trong nhân dân.
Năm 1378, triều đình phải quy định: “Theo lệ cũ, các trấn hễ có việc binh thì lệnh cho mỗi huyện có bao nhiêu ruộng thì phải nộp bao nhiêu vàng, bạc, tiền, lụa, không tính thêm số đinh sinh ra cũng không trừ bớt theo số người đã chết” (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ & Lê Hy, 2017, tr. Chế độ sở hữu kiểu điền trang thái ấp của quý tộc nhà Trần phát triển mạnh mẽ, kéo theo việc giới quý tộc, địa chủ chiếm ruộng đất, điền trang ngày càng nhiều. Ruộng đất công của nhà chùa mở rộng, nhà sư trở thành những địa chủ lớn. Sự tập trung đất đai vào giới nhà giàu dẫn đến nền sản xuất tự do của nông dân bị đe dọa.
Bên cạnh đó, “tầng lớp quý tộc ra sức mở rộng điền trang, thái ấp, tăng thêm số lượng nông nô, nô tỳ, củng cố vị thế của mình bằng cách xâm chiếm hoặc mua rẻ ruộng đất của nông dân” (Doãn 16 Chính, 2013, tr. Cuộc chiến tranh với các nước láng giềng như Chăm – pa, Ai Lao đã làm kinh tế càng thêm khánh kiệt. Đời sống kinh tế của các tầng lớp nhân dân lao động lâm vào tình cảnh vô c ng khó khăn. Ở nhiều nơi trên đất nước nạn đói thường xuyên xảy ra, nhân dân phiêu bạt khắp nơi để kiếm ăn, bán mình làm nô tỳ hoặc đi làm trong nhà chùa.
Triều đình nhiều lần phải kêu gọi nhà giàu ở các lộ, các phủ nộp thóc để cứu dân nghèo. Trong bối cảnh kinh tế nhà Trần suy sụp, quan đại thần Hồ Quý Ly đã thực hiện nhiều chính sách mới nhằm khôi phục lại nền kinh tế. Hồ Quý Ly tiếp tục thực hiện chính sách hạn nô và chính sách hạn điền. Hai chính sách được Hồ Quý Ly soạn thảo và đề xuất thực hiện là nhằm hạn chế quyền lợi của tầng lớp quý tộc: “Đại vương và trưởng công chúa thì số ruộng không hạn chế; đến thứ dân thì số ruộng là 10 mẫu.
Người nào có nhiều nếu có tội thì cho tùy ý được lấy ruộng để chuộc tội, bị biếm chức hay mất chức cũng được làm như vậy. Số ruộng thừa phải hiến cho nhà nước” (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ & Lê Hy, 2017, tr. Nhờ các chính sách này mà số tiền thuế thu được từ giới địa chủ tăng lên. Tuy nhiên, sự khủng hoảng kinh tế đã làm cho ngân khố triều đình trống rỗng.
Thương mại gặp khó khăn vì tiền tệ hiếm hoi. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy có hình vẽ khác nhau tùy theo giá trị. Theo đó: “1 quan tiền đồng đổi lấy 2 quan tiền giấy. Thể thức (tiền giấy): tờ 10 đồng vẽ rong biển, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 5 tiền vẽ phụng, tờ 1 quan vẽ rồng” (Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ & Lê Hy, 2017, tr.
Hồ Quý Ly hạ lệnh cấm tuyệt không được dùng tiền đồng, ai có ý đồ tàng trữ đều bị tử hình. Việc in và sử dụng tiền giấy giả bị khép vào tội nặng. Nhờ các biện pháp đó mà nhà nước đã thu được nhiều tiền đồng nhằm phục vụ hai mục đích đó là: tạo phương tiện chi trả và thu gom kim loại để đúc 17 súng. Sau khi chiếm ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly tiếp tục duy trì các chính sách cải cách kinh tế này nhưng kết quả của những cải cách chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội lúc bấy giờ.
Có thể thấy rằng, sự phát triển kinh tế là cơ sở của sức mạnh quốc gia, đảm bảo cho độc lập dân tộc và quyền lực của giai cấp nắm quyền. Nhà Trần đã xây dựng được nền kinh tế phát triển, tạo ra được một Đại Việt hùng mạnh. Đó là cơ sở để nhà Trần ba lần đánh thắng quân Mông – Nguyên, giữ vững được độc lập chủ quyền của đất nước và vị thế lãnh đạo của dòng tộc. Những năm cuối của nhà Trần, kinh tế rơi vào khủng hoảng, sức mạnh dân tộc bị suy giảm và dẫn đến việc nhà Trần thất thế.
Trong tình hình đó, Hồ Quý Ly đã chú trọng đến vấn đề cải cách kinh tế bởi ông hiểu vai trò quan trọng của lĩnh vực này. Tuy nhiên những cải cách đó chưa mang lại hiệu quả thì đất nước bị nhà Minh xâm lược. Thực tế trên đã đặt ra yêu cầu lịch sử: Muốn xây dựng và bảo vệ đất nước thì vấn đề cốt lõi là phải chăm lo phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Những yêu cầu của thời đại đã tác động sâu sắc đến Nguyễn Trãi, góp phần hình thành tư tưởng của Nguyễn Trãi và cũng định hướng cho hành động của Nguyễn Trãi trong việc xây dựng triều đại mới phát triển, đời sống nhân dân no ấm.
Năm 1407 nhà Minh tiến hành xâm lược nước ta. Sau khi đánh bại nhà Hồ, nhà Minh thực hiện những chính sách kinh tế để vơ vét của cải và bóc lột nhân dân ta. Tướng giặc Trương Phụ đã cho quân lính tự do cướp phá và thu gom tiền đồng chở về phương Bắc. Nhà Minh đã thực hiện một hệ thống thu thuế với nhiều tên gọi ở mỗi cấp khác nhau và một số cơ quan khai thác tài nguyên khoáng sản gọi là Ngân trường cục (khai thác mỏ bạc), Kim trường cục (khai thác mỏ vàng), Châu trường cục (mỏ ngọc trai).
Năm 1416, chúng lập ra thuế muối, bắt những diêm dân phải nộp tất cả số muối sản xuất được cho ty Bố Chính để định thuế sau đó bán cho các thương gia có môn bài. Các tài nguyên quý giá như vàng, bạc, đồng và sắt, săn ngà voi, sừng tê 18 giác, ngọc trai, trầm hương, đàn hương, hồ tiêu… đều bị quân Minh thu vét đưa về Trung Quốc. Chưa dừng lại ở đó, quân Minh còn lùng bắt hàng loạt dân ta đem về nước để phục dịch chúng, trong đó có nhiều thợ thủ công, thầy thuốc giỏi và cả phụ nữ, trẻ em. Đất đai của nông dân bị quân Minh tước đoạt để ban cho bọn tay sai người Việt làm đồn điền.
Chỉ sau hơn một năm xâm lược và cướp bóc, Trương Phụ đã thu gom được 235.760 chiếc thuyền và 2. Nguyễn Trãi đã viết về việc nhà Minh vơ vét kinh tế Đại Việt như sau: “Cấm mắm muối để khốn sự ăn uống của dân, nặng thuế khóa lao dịch để vét tài sản của dân. Xuống biển mò ngọc, đục núi lấy vàng, ngà voi, sừng tê, lông trả, gỗ thơm, phàm sản vật của ta, tất chúng muốn l ng vơ vét cho hết, không bỏ sót thứ gì để lấp dục vọng sâu như hang hốc” (Viện Sử học, 2020, tr. Chính sách kinh tế của nhà Minh nước đã tàn phá nền kinh tế Đại Việt.
Sự khủng hoảng kinh tế dẫn đến sự khủng hoảng toàn diện trong xã hội. Thực tiễn đã đó đã đưa đến nhu cầu đấu tranh chống ngoại xâm để giành lại nền độc lập dân tộc, khôi phục và phát triển đất nước. Tư tưởng Nguyễn Trãi đã phản ánh đầy đủ và tham gia hoạt động cải tạo thực tiễn để giải quyết những nhu cầu của thời đại. Sự phản ánh và giải quyết nhu cầu thực tiễn đã mang đến cho tư tưởng Nguyễn Trãi tính thực tiễn sâu sắc.