Đặt vấn đề Viê ̣t Nam là mô ̣t nước thuô ̣c khu vực Đông Nam của Châu Á. Đất nước đươ ̣c hưởng nhiề u điề u kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i từ tự nhiên , nơi đây những con người chăm chỉ , cầ n cù và sáng ta ̣o trong lao đô ̣ng , họ đang từng ngày tạo ra cho nền nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam mô ̣t diê ̣n ma ̣o mới với những bước nhảy vo ̣t đáng khâm phục. Nề n nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam đang vững bước đi trên đôi chân của chính mình đó là hai ngành trực thuộc cây và con. Cây là đa ̣i diê ̣n cho ngành trồ ng tro ̣t, con đa ̣i diê ̣n cho ngành chăn nuôi.
Hòa theo sự phát triển của các ngành kinh tế thì hiện nay chăn nuôi cũng là một trong các ngành đang có xu hướng phát triển đi lên. Mô ̣t trong số đó là ngành chăn nuôi lợn. Song song với việc phát triển chăn nuôi thì dịch bệnh cũng nảy sinh nhiều, một trong những dịch bệnh xảy ra là bệnh phân trắng lợn con giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi. Bệnh phân trắng là bệnh khá phổ biến, xuất hiện từ lâu trên thế giới và ở Việt Nam, gây thiệt hại không nhỏ trong ngành chăn nuôi.
Bệnh chủ yếu do nhóm vi khuẩn đường ruột E.coli gây ra.coli tiết ra độc tố nhiễm vào máu phá hủy nội mạc, thành mạch gây tăng tính thấm thành mạch, từ đó gây phù thũng lợn đi lại chậm chạp, tiêu chảy, phân lỏng màu trắng, lợn mất nước nhiều do tiêu chảy, khát nước dẫn đến rối loạn hấp thu và trao đổi chất trong cơ thể, làm lợn gầy yếu hốc hác. Nếu không tác động kịp thời tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn, bởi vậy việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp phòng trị bệnh thích hợp để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi lợn là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, để hạn chế mức thấp nhất tỷ lệ lợn nhiễm bệnh, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường e 2 Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh - 21 ngày tuổi và biện pháp phòng trị bệnh tại xã Khánh Trung, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình” 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài - Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi, phương thức chăn nuôi, công tác phòng, chống dịch bệnh của địa phương.
- Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con tại một số khu vực thuộc xã Khánh Trung, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. - Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con và rút ra phác đồ điều trị hiệu quả hơn. - Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con. - Hiểu biết bệnh lợn con ỉa phân trắng về: Đặc điểm, nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và phương pháp phòng trị bệnh.
- Nắm chắc lý thuyết và thành thạo các thao tác thực hành. - Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trị bệnh phân trắng lợn con. - Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Đề xuất phương pháp đánh giá nguyên nhân mắc bệnh phân trắng và cách phòng trị. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá mức độ nhiễm bệnh phân trắng. - Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để định hướng nguyên nhân gây bệnh, từ đó biết cách phòng và trị bệnh đạt hiệu quả cho lợn con. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Đặc điểm của lợn con theo mẹ * Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần. Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần.
Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm. Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh.
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể. Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành. Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ. e 4 * Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn.
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần. Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít). Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít). Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh.
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất. Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh. Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng. Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa.
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên. Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ. Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa.
Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu. e 5 Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl.
Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày). Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [12] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric. Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn. Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7] vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng lợn con. Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con. Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi. Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh.
Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con. e 6 Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa. Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh.
* Đặc điểm của cơ năng điều tiết của lợn con Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [4] ở lợn con sơ sinh, tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82%.